SỐNG CHẾT MỖI NGÀY

Trích: SỐNG CHẾT MỖI NGÀY
Tác giả: YONGEY MINGYUR RINPOCHE
Dịch: Sen Xanh
Nhà Xuất Bản Hà Nội – 2021

02/02/2026
25 lượt xem

—-🍀🌼🍀—-

Nhận thức sâu sắc mà Đức Phật đã khám phá ra thật đơn giản nhưng cũng thật khó để chấp nhận. Những lời dạy của Ngài giới thiệu cho chúng ta về một phần tiềm ẩn, chưa được khám phá trong chính chúng ta. Đây là nghịch lý lớn của con đường Phật giáo: Chúng ta thực hành để nhận ra những gì bản thân vốn đã là, do đó ta không đạt được gì, không nhận được gì, không đi đến đâu cả. Chúng ta chỉ tìm cách để khám phá những gì vốn đã luôn ở đó.

Đức Phật đã thuyết pháp lần đầu tiên ở Sarnath, nơi chỉ cách Varanasi bảy dặm. Cuốn sách này nói rằng bài pháp đầu tiên của Ngài là giảng về sự thật của khổ. Tôi nghĩ nói vậy cũng đúng thôi, nhưng nếu không giải thích cặn kẽ thì câu nói này sẽ khiến cho những người không theo Phật giáo nghĩ rằng truyền thống này là chủ nghĩa hư vô, thậm chí bệnh hoạn và quá lo lắng với nỗi khổ tinh thần.

Khổ đau phát sinh từ đâu? Cái cách chúng ta đang hoạt động như thể cuộc sống của mình và những người thân yêu sẽ tồn tại mãi mãi rõ ràng là một sự mê lầm. Nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ rời xa gia đình hoặc bạn đồng hành là một quan niệm sai lầm. Cho rằng các mối quan hệ, sức khỏe, tài chính, danh tiếng… của bản thân luôn ổn định là một sai lầm lớn, giống như nhiều người trong chúng ta đã hiểu điều này từ những mất mát và thay đổi bất ngờ. Ngay cả bây giờ, khi tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới đã sụp đổ, khi con tàu Titanic đã chìm xuống đáy đại dương, và những tượng Phật ở Bamiyan đã bị thổi bay khỏi mặt đất, chúng ta vẫn khờ khạo tin rằng những gì được dựng lên là bền lâu, đặc biệt là càng lớn thì càng bền.

Vâng, đúng là Đức Phật đã dạy sự thật rằng cuộc đời là khổ, và như ta đã biết, bản chất cuộc sống này là bất toại nguyện, thất vọng và đủ loại phiền toái. Nó là vậy khi nào chúng ta vẫn còn mắc kẹt trong nhận thức sai lầm của mình, nhưng những nhận thức sai lầm này không cố định, chúng không bị ràng buộc với bất cứ thứ gì. Do đó, chúng ta có một sự lựa chọn. Khi chúng ta tránh né không dám đối diện với tâm mình, với nỗi sợ hãi về sự thay đổi và cái chết, với cơn sân giận và ghen tị của bản thân, ta chỉ đang giúp cho những chướng ngại này có thêm sức mạnh. Càng trốn chạy, chúng ta càng có ít cơ hội trốn thoát. Chúng ta phải đối mặt với khổ đau, đi thẳng vào nó, chỉ khi đó ta mới có thể thoát khỏi nó. Đây là sự thật đầu tiên.

Tôi đột nhiên nhận ra rằng mình có thể đứng đây một thời gian dài vì tôi đã trở lại vai trò làm thầy. Tôi đã ở trong làn da cũ của mình, thứ quen thuộc như y phục tôi đang mặc. Tâm thức hành hương của tôi đang ở đâu, cái tâm đã ra đi với sự cúi đầu trong khiêm tốn, với trái tim sẵn sàng cho bất cứ điều gì khởi sinh? Tôi không thể ở đây mãi.

Địa điểm chính cuối cùng là Kushinagar (Câu Thi Na), nơi Đức Phật nhập diệt vào khoảng năm 487 trước Công nguyên. Chuyến tham quan kết thúc ở đó. Hai ngàn sáu trăm năm sau, được Đức Phật khơi nguồn cảm hứng, chuyến du hành của tôi cũng vừa mới bắt đầu. Hoặc đã bắt đầu. Hoặc sẽ bắt đầu khi tôi bỏ chiếc áo tăng sĩ này ra. Hoặc khi… tôi không bị chôn chân tại sân ga này. Cho dù tôi có đứng yên một chỗ thì máu tôi vẫn chảy, tim tôi vẫn đập, phổi vẫn hô hấp, các tế bào vẫn đang chết đi và tái tạo, các cơ quan của tôi vẫn đang trải sự lão hóa. Nếu tôi biết phải đi đâu, tôi sẽ di chuyển.

Kushinagar hóa ra chỉ cách năm mươi dặm về phía Tây Bắc. Tôi mới đến đó một lần từ nhiều năm trước cùng với anh trai Tsoknyi Rinpoche. Nói chung, Kushinagar không có lượng du khách hành hương đồng như các Thánh địa Phật giáo khác, những nơi mà tôi đều đã đến thăm nhiều lần. Nhiệt độ tháng Sáu ở đây lên đến gần 50 độ C nên ngay cả người sùng đạo cũng tránh xa, đặc biệt là người Tây Tạng, những người vẫn đang phải điều chỉnh để thích nghi với khí hậu phía Nam. Chi tiết này hữu ích cho tôi, bởi vì tôi không muốn bị nhận ra. Tôi đã mua một vé cho chuyến tàu tiếp theo đến Gorakhpur, từ đó tôi sẽ bắt xe buýt đến Kushinagar.

Khoảng năm trăm năm sau cuộc đối thoại giữa nhà sư Nagasena và nhà vua, một bậc thầy Ấn Độ thế kỷ thứ tám là Shantideva (Tịch Thiên) đã lập luận tương tự để phá bỏ cái ngã, ngài còn mang nó đi một bước xa hơn:
Răng, tóc, móng đều không phải ngã,
Ngã cũng không là máu huyết, xương.
Không là nước mũi, bọt, đàm,
Không là thịt nước mật vàng, mật xanh.
Ngã không là phổi hay gan,
Mồ hôi hay mỡ lại càng không ta.
Không là nội tạng trong da,
Không là phân tiểu thối tha khó nhìn.

Để giải thích cái ngã mê lầm đã tự tạo ra khổ đau cho nó như thế nào, ngài Shantideva hỏi:
Nếu còn chút nào thật ngã,
Tất nhiên còn sợ hãi nọ kia.
Nhưng vì thật chẳng có ta,
Thì ai ở đấy để mà sợ run?

Cái tôi có tên Mingyur Rinpoche này đã bị căng thẳng khi ở nhà ga Varanasi. Và ngài Shantideva đang hỏi cái tôi này, cũng như đang hỏi mỗi người trong chúng ta rằng: Thì ai ở đấy để mà sợ run? Hay nói một cách khác là: Tôi là ai?

Nếu đi theo dẫn giải của Nagasena và Shantideva, dù chỉ là trên cái hiểu ngôn từ, ta sẽ dễ dàng đi đến kết luận rằng cái tôi này, người bị sợ hãi này không tồn tại, không có chút thực chất nào. Cái tôi này là cái không thể tìm thấy, có bản chất trong suốt và lỏng như nước, dẫu vậy… nó vẫn có thể bị tổn thương.
Nếu không được tu tập, tôi có thể kết luận rằng vấn đề nằm ở nhà ga chứ không phải ở tâm tôi. Vâng, chúng ta có thể cho rằng nhà ga nên sử dụng một số biện pháp kiểm soát chuột và cải thiện công tác vệ sinh dọn dẹp rác rưởi và phân. Như vậy sẽ thật tốt đẹp. Nhưng khi chúng ta nhìn vào cuộc sống của tầng lớp trung lưu hay những người chẳng bao giờ tiếp xúc với sâu bọ, luôn có đủ chăn êm nệm ấm, ta sẽ không thấy nhiều sự hài lòng. Đức Phật dạy rằng tâm là nguồn gốc của khổ đau và cũng là nguồn gốc của giải thoát. Khi tôi bắt đầu được tới thăm các nước hiện đại có nền công nghiệp phát triển, tôi mới thấy rằng không đâu trên thế giới giúp ta xác nhận sự thật căn bản này hơn là được tận mắt chứng kiến nỗi thống khổ giày vò đang cùng tồn tại với sự huy hoàng của cõi trời. Nếu không có sự chuyển hóa cá nhân và không có một sự khiêm tốn nhất định thì lòng tham và sự sân hận đang đẩy chúng ta – không ngoại trừ một ai – xuống vực sâu. Nếu mỗi người không tự nhận ra cách mà bản thân đang tự khiến mình hứng chịu đường tên mũi đạn như thế nào, chúng ta chỉ đang tiếp tục chĩa mũi tên vào nhau, và nhận lầm rằng nguồn gốc gây khổ đau cho ta đến từ bên ngoài.

Lần này khi lên tàu, tôi cảm thấy mình như một người đã lão luyện ngồi khoang hạng ba, tôi không còn cảm thấy quá sợ hãi bởi sự chen lấn xô đẩy nữa. Tôi biết thích nghi hơn thay vì chống lại sự khó chịu của mình. Tôi cảm thấy căng thẳng, vậy thì sao? Tôi không thích mọi người nhìn mình với ánh mắt nghi ngờ, điều đó cũng không sao. Chỉ cần nhận biết nó, đừng giả vờ, hãy để nó như vậy. Tới Varanasi tôi đã gặp những khó khăn bất ngờ là vậy, nhưng lúc này khi rời đi tôi cảm thấy bớt mất phương hướng hơn nhiều. Nếu không có niềm tin cơ bản vào sự thật của thay đổi, có thể tôi đã quay trở lại Bodh Gaya.

Những người bạn đồng hành trên chuyến tàu này của tôi trông cũng nghèo túng chẳng khác gì so với những người trên chuyến tàu lần trước, nhưng với một tâm thức thoải mái hơn, tôi không còn thấy họ như một đám đông xa lạ, và họ cũng không có chút biểu hiện thù địch nào như lần đầu tôi cảm nhận ở Varanasi. Tôi để ý họ mỉm cười thường xuyên thế nào, cách họ chia sẻ chút thức ăn ít ỏi ra sao và cách họ nhẹ nhàng ôm con cái. Một lần nữa, tôi kết luận rằng những người thành thị hiện đại dường như căng thẳng và kích động hơn người dân quê nghèo. Có vẻ như càng có nhiều tiện nghi vật chất, người ta càng quá ôm giữ mọi thứ, sợ mất đi của cải của mình. Họ luôn muốn nhiều hơn, nhiều hơn nữa và không bao giờ hài lòng. Những người có hoàn cảnh khó khăn ở Nepal và Ấn Độ có kỳ vọng thấp hơn nhiều và tỏ ra hài lòng hơn với những gì ít ỏi họ có. Tôi đã bắt đầu nhận ra sự tương đồng giữa những vấn đề nảy sinh xung quanh cuộc sống gia đình, công việc của người hiện đại và vấn đề khi mọi người ở khắp nơi phải đối diện với cái chết. Đó là họ đều thiếu khả năng chấp nhận vô thường, bám víu vào những gì không có sẵn và không thể buông bỏ.

Chiếm một phần không nhỏ trong nỗi phiền muộn của thế giới hiện đại là nỗi sợ cái chết vì không biết nó sẽ xảy ra như thế nào và phải đối mặt với những gì. Liệu nó có đau đớn không? Có khó khăn không? Có cảm giác tội lỗi, hối hận, hay có sự chuộc lỗi không? Con người ở khắp mọi nơi đều sợ chết, nhưng nỗi sợ cái chết và sự chối bỏ cái chết dường như được củng cố thêm bởi các giá trị vật chất và xu hướng bám chấp của chúng ta vào cuộc sống quen thuộc.

Trong quãng thời gian trước khi tôi ra đi, mọi thứ hiện ra sừng sững như một ngọn núi vàng phản chiếu tất cả những điều mà tôi tin tưởng và trân trọng. Trong nhiều tuần, tâm trí của tôi dao động giữa cảm giác hào hứng tiến về phía trước và ngoảnh lại phía sau với chút đượm buồn. Tôi đã nhiều lần nghi ngờ liệu mình có thể thực hiện kế hoạch này một cách trót lọt hay không. Ngay cả trên chuyến tàu đến Gorakhpur, tôi đã dao động giữa quyết tâm sắt đá và sự ngờ vực rằng liệu mình có đủ can đảm để đánh đổi hơi ấm của tình yêu rạng ngời tỏa ra từ ngọn núi này với lòng hiếu khách đầy khả nghi của đường phố. Khi cảm thấy mọi thứ hơi nghiêng về sự u ám, tôi nhớ lại những câu chuyện để tăng thêm sự tự tin. Cũng như tất cả những đứa trẻ người Tạng khác, tôi được giới thiệu về Pháp một phần thông qua những câu chuyện khó quên. Câu chuyện về một người họ hàng của cha tôi là một trường hợp đặc biệt.

Một nhà sư trẻ ở độ tuổi đôi mươi mong muốn được gặp Patrul Rinpoche (1808-1887), một trong những bậc thầy vĩ đại nhất trong các đạo sư Tây Tạng. Patrul Rinpoche thường thích di chuyển một mình và cố gắng để đặt trách nhiệm của tu viện sang một bên. Ngài không mơ ước gì hơn là được sống trên núi và không bị nhận ra. Trông ngài rất nghèo trong bộ đồ rách nát cũ sờn khiến người ta thường xuyên nhầm ngài với người ăn xin. Người ta thậm chí đã quay lưng với ngài ngay trước cổng của những tu viện đã mời ngài giảng dạy. Patrul Rinpoche có thể ngồi trên ghế trụ trì để giảng dạy hoặc có thể bị xa lánh hắt hủi, được phục vụ thức ăn ngon nhất hoặc được bố thí cho một nắm bột lúa mạch và yêu cầu rời đi. Với ngài cách nào cũng ổn. Tôi tự hỏi liệu mình có thể rèn luyện tâm để luôn luôn vững vàng như vậy trong mọi hoàn cảnh, để chấp nhận bất cứ điều gì khởi sinh không?

Theo lời kể của cha tôi, nhà sư trẻ kia đã bắt kịp Patrul Rinpoche trong cuộc hành trình mà vị đạo sư đáng kính đi cùng với một số Lạt Ma khác. Đêm đó họ ngủ trên cánh đồng ngay dưới chân đèo cao. Tiếng lành đã đồn xa trong đêm rằng Patrul Rinpoche đang ở gần đó. Những người hành hương đã thức giấc vì tiếng reo hò phấn khích của những người sùng đạo dội xuống từ những con đường mòn. Từ những ngôi làng, họ kéo đến để đảnh lễ và cúng dường. Một người đàn ông bước tới với một đồng tiền vàng nặng và đặc biệt lớn. Ông ta nói với Patrul Rinpoche rằng một thành viên trong gia đình vừa qua đời. Ông chìa ra đồng xu và thỉnh ngài cầu nguyện cho người đã mất. Patrul Rinpoche nói rằng ngài sẽ thuận lòng cầu nguyện nhưng không cần đến đồng xu. Người đàn ông nài nỉ, giải thích rằng ông ta không thể để ngài cầu nguyện nếu Patrul Rinpoche không chấp nhận đồng tiền. Họ cứ đưa đi đẩy lại như thể cho đến khi Patrul Rinpoche nói: Được rồi. Tôi sẽ chấp nhận đồng xu, nhưng sau khi cầu nguyện xong tôi sẽ đưa nó lại cho anh. Người đàn ông đồng ý nhưng sau khi Patrul Rinpoche cầu nguyện xong ông ta từ chối nhận lại đồng xu.

Trong khi bất đồng vẫn tiếp tục, những người còn lại trong nhóm thu dọn thảm ngủ và dụng cụ nấu ăn. Cuối cùng Patrul Rinpoche nói: Hãy đặt đồng xu xuống tảng đá này và để nó ở đây. Mọi người đều đồng ý rằng đây là một giải pháp tốt và bắt đầu khởi hành. Chỉ riêng vị sư trẻ ở lại phía sau. Anh ta không thể rời mắt khỏi đồng tiền vàng lớn và không thể tin rằng những người khác có thể cứ bỏ đi như thế. Anh ta tính rằng nếu không lấy nó, một người dân trong làng sẽ lén quay lại và cuỗm nó mất. Anh ta cố gắng hợp lý hóa việc ăn cắp bằng cách tưởng tượng ra tất cả những điều vị tha mà anh có thể làm nhờ trở nên giàu có. Anh ta đã ở lại gần đồng tiền trong một thời gian dài đến nỗi Patrul Rinpoche và những người khác gần như đã lên đến đỉnh đèo và vẫn chẳng có người dân nào quay lại. Anh ta bắt đầu chạy về phía đèo nhưng đổi ý và quay ngược trở lại. Mặt trời buổi sáng đã lên qua đỉnh núi và đang chiếu những tia sáng vào đồng xu khiến cho nó lấp lánh như chính mặt trời. Một lần nữa anh lại dán chặt mắt vào đồng xu. Anh ta làm điều này một lần nữa rồi sau đó chạy để đuổi kịp mọi người.

Dù cho cha tôi kể tôi nghe câu chuyện này bao nhiêu lần, ông luôn đảm bảo rằng tôi hiểu những điểm chính: Con sẽ có hàng ngàn cơ hội để lựa chọn giữa hướng đi tích cực và tiêu cực – nghĩa là tăng hay giảm khổ đau cho mình và người khác; nếu con thực sự muốn cắt bỏ những bám chấp của mình, con có thể làm điều đó trong bất cứ hoàn cảnh nào – nhưng sẽ luôn có thứ gì đó kéo bạn trở lại theo hướng khác. Sẽ không bao giờ dễ dàng để làm vậy, nhưng có thể làm được.

Tôi hiểu rằng, cảm giác bị kéo lại bởi những gì mình quý trọng, yêu mến và những gì quen thuộc là một phần cần thiết của việc cắt bỏ các bám chấp. Tôi cũng bắt đầu nhận ra rằng để cái tôi cũ chết đi và tái sinh thành một điều gì đó mới sẽ không xảy ra trong một sớm một chiều. Tôi không còn ở trong khung cảnh quen thuộc của một tu viện, nhưng tôi vẫn còn là bản thân xưa cũ của mình quá nhiều. Tôi vẫn còn phải vượt qua cái tôi Mingyur Rinpoche đó để có thể ngồi thoải mái trên sàn nhà giữa những người lạ. Nhưng nó sẽ thay đổi. Tôi chắc chắn là như vậy.
Tôi nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ xe lửa. Tôi vừa mới hình dung ra Patrul Rinpoche ở vùng núi tuyết lạnh giá của Tây Tạng, bây giờ tôi đã thấy cánh đồng thẳng tắp dưới cái nắng chói chang. Nếu tôi có thể nói chuyện với cha tại thời điểm đó, liệu ông sẽ nói gì?

Ami… nghe ta này…
Và sau đó thì sao… Dòng tiếp theo là gì?
Tôi mơ màng chìm vào giấc ngủ theo chuyển động nhịp nhàng của đoàn tàu.

—-🍀🌼🍀—-