HAI CẤP ĐỘ CỦA HỌC TẬP GỬI TỚI NHỮNG NGƯỜI BẠN CŨ CỦA TÔI Ở QUÊ NHÀ
Nếu quan sát kĩ hành vi của thân (cơ thể vật lý) và tâm (tâm hồn, cảm xúc), ta sẽ nhận ra rằng ta có thể phân chia các hành vi ấy thành hai loại riêng biệt. Nhóm đầu tiên là nhóm hoạt động với tư cách một cá nhân độc lập, và nhóm thứ hai là nhóm hoạt động với tư cách một thành viên trong cộng đồng xã hội.
ĐỪNG CHỈ LÀ NHỮNG KẺ HỌC VIỆC CỦA LOÀI KIẾN
Nhóm hoạt động đầu tiên liên quan đến hoạt động của một cá nhân độc lập, đáp ứng các nhu cầu về ăn, mặc, ngủ nghỉ. Không có gì trên trái đất này vô dụng với con người. Ta gieo một hạt, ta thu về hai, ba trăm quả. Cây cối trong núi mọc mà không cần ta vun trồng. Gió làm xoay cối xay gió. Biển trở thành đường giao thông. Ta đào than trên núi, hút nước lên từ sông ngòi, tạo ra lửa và hơi nước rồi từ đó tự do di chuyển những con tàu lớn và những chiếc ô tô. Ta sẽ chẳng thể nào đếm hết các hệ thống tổ chức tinh vi của tự nhiên. Con người chẳng qua chỉ tận dụng hệ thống tổ chức tinh vi này của tự nhiên và điều chỉnh một chút để có lợi cho mình. Tự nhiên, bản thân nó đã hoàn thành đến 99% những gì cần thiết để đáp ứng được nhu cầu ăn, mặc, ngủ nghỉ của con người. Ta chỉ thêm đúng 1% vào hệ thống ấy. Vốn dĩ chúng ta không tự mình đáp ứng được nhu cầu ăn, mặc, ngủ nghỉ ấy của bản thân, mà đó là món quà mà tạo hóa đã ban tặng cho ta, ta có được nó như thể ta nhặt được một thứ gì đó rơi trên đường.
Vì thế, có thể khẳng định luôn rằng, con người được đáp ứng cái ăn, mặc, ngủ nghỉ theo cách thực dễ dàng. Do vậy, ta tuyệt vời và khác biệt không phải vì ta đã đáp ứng được nhu cầu ăn, mặc, ngủ của mình.
Dĩ nhiên, để sinh sống một cách độc lập, “tay làm hàm nhai”, ta phải chăm chỉ kiếm cái ăn như người xưa đã dạy. Nhưng theo tôi, ta hoàn thành điều đã được dạy dỗ này không đồng nghĩa với việc ta thực hiện xong nhiệm vụ của một con người. Có được cái ăn, có lẽ chỉ đơn giản là ta đã giúp mình không để thua các loài động vật khác. Bạn cứ thử quan sát mà xem, động vật, cá, côn trùng, bất cứ loài nào cũng tự kiếm ăn. Dĩ nhiên ta không chỉ ăn để thỏa mãn cảm giác nhất thời. Nhưng lũ kiến cũng vậy đấy thôi, chúng cũng nghĩ đến tương lai xa, cũng đào hố xây tổ, dự trữ thức ăn cho những ngày đông giá. Ấy vậy mà, trong xã hội chúng ta cũng vẫn có những người chỉ làm tròn đến mức độ như của lũ kiến thôi đấy. Tôi sẽ lấy ví dụ sau đây để minh họa.
Một cậu bé khi đến tuổi trưởng thành bắt đầu tìm kiếm việc làm. Có thể cậu ấy sẽ là một người thợ thủ công, cũng có thể đi kinh doanh buôn bán hay thậm chí thành quan chức. Cậu không còn được gia đình và những người xung quanh chăm sóc, bao bọc. Cậu ăn mặc phù hợp với lứa tuổi và cư xử phải phép với người khác. Cậu có thể không cần ở nhà thuê mà dễ dàng tự xây một ngôi nhà, sắm sửa nội thất và cưới cô gái trẻ là người mình hằng mơ ước làm vợ. Rồi sau đó cậu ta phải tiết kiệm tiền. Nếu hai vợ chồng sinh nhiều con, chi phí giáo dục cho lũ trẻ sẽ tốn kém, vì dĩ nhiên hai vợ chồng cậu phải cho lũ trẻ đi học. Rồi còn phải dự phòng một khoản tiền phòng khi ốm đau bệnh tật. Vậy thì, nếu cậu là một người quan tâm đến tương lai của mình, cậu lo đủ những thứ để bảo vệ ngôi nhà của mình, cậu sẽ tự hào nói rằng: “Tôi đang sống một cuộc đời độc lập”. Cậu tự hào về nó vì cậu cho rằng như thế đã là đáng kính, đã sống một cuộc đời có thể gọi là khá.
Vấn đề là, cậu ấy và những người giống cậu đang chỉ như con kiến học việc. Bất kể có làm gì trong đời mình, họ cũng không bao giờ có thể vượt qua được lũ kiến. Khi họ tìm kiếm cái ăn cái mặc và xây dựng nên một ngôi nhà, họ cũng đã đổ mồ hôi sôi nước mắt. Họ không phải hổ thẹn trước các bậc tiền nhân, bởi họ đã làm đúng như những gì được dạy. Nhưng con người là một chủng loài tự xem mình là loài đứng đầu chuỗi thức ăn, làm được chừng đấy chưa thể coi là hơn loài động vật được.
Vậy thì, nếu chúng ta thấy thỏa mãn vì đã có đủ cái ăn, mặc, ngủ nghỉ, thì kiếp người của ta chỉ sinh ra là để chết đi. Chẳng có gì đổi khác vào lúc ta chết so với lúc ta được sinh ra. Nếu một ngôi làng tiếp tục tồn tại như vậy từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì ngôi làng ấy mãi mãi sẽ chẳng thay đổi sau hàng trăm thế hệ. Sẽ chẳng có công nghiệp, không tàu hơi nước mà cũng chẳng có những chiếc cầu sắt. Ngoài ta và gia đình, ta cứ phó mặc hết tất thảy cho tự nhiên, không nghĩ ngợi gì đến việc sẽ để lại bất kỳ dấu tích nào cho thấy ta – một con người từng sống trên cõi đời này.
Người phương Tây từng nói rằng: “Nếu mỗi người trong chúng ta đều thấy thỏa mãn với những thứ bé nhỏ, thì sẽ chẳng có gì thay đổi so với thời điểm bắt đầu”. Quả đúng như vậy.
Thoả mãn có nhiều kiểu và ta đừng nên hiểu sai về chúng. Con người thì thường hay “được voi đòi tiên”, càng nhận được nhiều ta càng thấy thiếu chứ chẳng bao giờ thấy đủ. Đó là tham lam, là dục vọng. Nhưng nếu một người không tư duy, suy nghĩ, lao động để đạt được thứ mình khao khát thì vĩnh viễn chỉ là một lũ lười biếng ngu đần.
LÀM NGƯỜI LÀ ĐỂ ĐÓNG GÓP CHO XÃ HỘI
Con người vốn có đặc tính tự nhiên là ưa thích tập hợp lại thành từng nhóm. Ở nhóm hành động thứ hai này, chúng ta không thực hiện một cách đơn lẻ. Tuy nhiên, việc vợ chồng, con cái và cha mẹ sống chung với nhau chưa thể thỏa mãn được nhóm tập tính này. Chúng ta tự bản năng, mong muốn giao lưu, quen biết với nhiều người khác nhau. Vòng giao lưu của ta càng rộng thì ta càng thấy hạnh phúc. Đây cũng chính là lý do dẫn đến sự ra đời của xã hội loài người. Một khi đã là thành viên của xã hội ấy, ta cũng phải chịu những nghĩa vụ đối với nó. Tất cả những thứ ta gọi là học vấn, công nghiệp, chính trị hay pháp luật đều tồn tại để phục vụ cho xã hội loài người. Nếu xã hội không tồn tại, thì tất thảy những thứ ấy cũng không cần thiết phải có.
Vậy tại sao nhà nước lại xây dựng pháp luật? Mục đích là để quản trị xã hội, đảm bảo tổng thể hòa thuận, và các mối quan hệ có giới hạn không nên vượt qua. Tại sao những học giả lại viết sách và giáo dục con người? Là để truyền đạt kiến thức cho thế hệ sau, để bảo vệ sự giao lưu giữa con người với con người trong xã hội. Từ xa xưa, học giả Trung Hoa từng nói rằng: “Hãy cai trị thế giới một cách công bằng như khi chia thịt”, và họ cũng nói rằng: “Đừng vội dọn cỏ trong vườn nhà mình, hãy dọn cho sạch thế gian này trước”. Tất cả các câu nói này đều bày tỏ nguyện vọng được phục vụ xã hội. Bất kể là bao nhiêu người, chỉ cần ta sở hữu bản năng bình thường của loài người, ta ắt sẽ tự muốn trở nên có ích với xã hội. Thậm chí ngay cả khi ta nghĩ rằng ta không làm điều gì đó vì lợi ích của xã hội, ta vẫn có thể thấy rằng hậu thế và con cháu ta đang được hưởng lợi từ đó một cách tự nhiên. Đặc tính này của con người cho phép ta vui lòng thực hiện các nghĩa vụ xã hội của mình.
Nếu không có những con người cống hiến cho xã hội như vậy từ xưa đến nay thì chúng ta đã không được sinh ra cũng như được thụ hưởng những nền văn minh của thế giới hiện thời. Khi ta nhận được tài sản của cha mẹ để lại, ta gọi đó là di sản. Nhưng di sản từ tổ tiên chỉ là đất đai, vật chất, khi mất đi ta sẽ chẳng còn lại gì. Văn minh xã hội thì không như vậy. Văn minh là thứ di sản mà những con người trong quá khứ đã đoàn kết trao lại cho con người trong xã hội đương thời. Đất đai và của cải không thể mang ra so sánh với mức độ rộng lớn của văn minh.
Vậy giờ, ta nên cảm ơn ai vì lòng tốt này đây? Đáng tiếc là, ta chẳng thể nào thấy được người ta cần cảm tạ. Vì sao? Vì giống như ta không cần tiền để có được ánh nắng mặt trời và không khí để tồn tại, dù văn minh là thứ rất quý giá, nhưng văn minh không thuộc quyền sở hữu của ai cả. Đây là món quà vô hình của hàng hàng lớp lớp người xưa để lại cho ta mà thôi.
Thuở khai thiên lập địa, con người chưa mở mang trí tuệ. Nói một cách dễ hiểu, ta giống như một đứa trẻ sơ sinh còn chưa biết gì về cuộc đời. Khi trồng lúa mì và muốn nghiền nó thành bột, thời nguyên thủy con người dùng những cục đá thô sơ. Sau đó, bằng một chút khéo léo, người ta đẽo hai viên đã thành hình tròn và đẹt, khoét một lỗ nhỏ ở chính giữa, cắm một trục giá bằng gỗ hoặc kim loại vào lỗ của viên đá, hạ viên đá này xuống rồi đặt viên đá khác lên trên nó và lắp trục giá của viên đá dưới vào lỗ của viên đá trên. Ý tưởng là đặt lúa mì vào giữa các viên đá và xoay viên đá phía trên, sau đó sử dụng trọng lượng của viên đá để biến lúa mì thành bột mì. Ta gọi nó là cối xay. Ban đầu, con người vẫn phải dùng tay để quay cối xay, nhưng về sau, hình dạng chiếc cối dần được cải tiến và nó cũng ngày càng tiện lợi hơn bằng cách đặt vào guồng nước, cối xay gió và sau đó là tận dụng sức mạnh của hơi nước.
Bất cứ thứ gì trong xã hội cũng đều hướng đến sự tiến bộ hơn. Có những thứ hữu ích ngày hôm qua vẫn còn tuyệt vời ngày hôm nay. Có những phát minh mới của năm ngoái, năm nay đã trở nên tầm thường. Nếu chúng ta nhìn vào đà phát triển từng ngày của các nước phương Tây, ta sẽ thấy rằng các thiết bị, máy móc, chẳng hạn như điện báo, tàu hơi nước… không ngừng được cải tiến kể từ ngày chúng ra đời. Sự tiến bộ không chỉ diễn ra đối với máy móc, vật chất hữu hình. Trí tuệ càng được mở mang, quá trình giao lưu giữa con người với con người diễn ra càng sôi động. Khi sự trao đổi trở nên phong phú đa dạng hơn, con người sẽ nhân văn hơn, công pháp quốc tế được phổ cập rộng rãi hơn và chúng ta cũng không còn dễ dàng tuyên chiến với nhau nữa. Con người tích cực thảo luận với nhau về các vấn đề kinh tế, các phương pháp chính trị; giao thương cũng đã thay đổi hoàn toàn, hệ thống trường học, cách trình bày các cuốn sách, các chính sách thương mại của chính phủ và các cuộc tranh luận chính trị trong nghị viện cũng được thay đổi với sự gia tăng các cấp độ tương ứng với sự tiến bộ của xã hội. Đích đến của sự tiến bộ trong nền văn minh quả thực không thể đoán trước được. Nếu thử đọc về lịch sử văn minh châu Âu từ thời hồng hoang cho đến thế kỷ 17, để rồi lật giở sang hai trăm năm sau, chúng ta sẽ phải choáng ngợp trước sự thay đổi như vũ bão qua hàng trăm năm. Thật khó tin đó là lịch sử của cùng một quốc gia. Nguồn gốc của sự tiến bộ này, theo tôi, tất cả là nhờ nền tảng di sản của người xưa, những thế hệ đi trước chúng ta.
Nền văn minh Nhật Bản của chúng ta bắt nguồn từ Trung Quốc và Triều Tiên. Từ đó, nó được chính sức mạnh của nhân dân ta tôi luyện và đạt đến trình độ ngày nay. Nguồn gốc của Tây học có thể bắt nguồn từ thời đại Horeki(1). Gần đây, sau khi bắt đầu mở cửa giao lưu với nước ngoài, tư tưởng phương Tây cuối cùng đã tràn vào và lan rộng trong xã hội. Nước Nhật bắt đầu có những người dạy, nghiên cứu về phương Tây và dịch sách phương Tây. Tinh thần của người dân vì thế văn minh hơn, hệ thống chính trị có cơ may được cải cách, một số khuyết điểm, yếu kém được loại bỏ. Tất cả đã và đang trở thành động lực phát triển thúc giục chúng ta phải đi nhanh hơn, vững hơn trong thời đại này. Cần phải khẳng định lại một lần nữa rằng, chính nhờ di sản của người xưa mà chúng ta có thể tiến lên trên con đường văn minh.
Vậy là, từ xưa đến nay, không thiếu những người có năng lực, đã vì xã hội mà lao tâm khổ tứ. Giờ đây, nếu ta hình dung về suy nghĩ, tâm trí của những con người đáng quý ấy, thật khó để tưởng tượng họ chỉ là những người đã bằng lòng với cuộc sống sung túc, thỏa mãn với cơm ăn, áo mặc và một nơi để trú ngụ. Chắc chắn họ không thể là những người tầm thường như vậy được, họ phải là những người có lý tưởng cao đẹp, nặng lòng với xã hội. Học giả chúng ta ngày nay đã được thừa hưởng di sản của nền văn minh từ những con người như vậy, và giờ đây đang có cơ hội để trở thành những người tiên phong trong hành trình của sự tiến bộ. Vì vậy, chúng ta không được cho phép mình giới hạn sự tiến bộ ấy. Nếu chúng ta muốn nhiều thập kỷ về sau, những xã hội văn minh tương lai tôn trọng các bậc tiền nhân chúng ta, ta phải làm những điều để lớp thế hệ sau phải biết ơn, cảm tạ. Nói tóm lại, công việc của chúng ta là có mặt trong cuộc đời này ngày hôm nay, chính là để lại bằng chứng về sự tồn tại của mình và truyền lại cho các thế hệ tương lai. Đây là một nhiệm vụ thực sự nghiêm túc.
Vậy thì, chỉ đọc vài cuốn sách giáo khoa, trở thành một thương gia, một thợ thủ công và một viên chức nhỏ của chính phủ, kiếm được vài trăm đô la một năm và hỗ trợ vợ con chưa nên là điều ta hài lòng. Ta cần phải trở thành một người hữu dụng với xã hội nữa. Bên cạnh đó, ta cũng phải ghi nhớ, trong những việc ta có thể làm, có những việc phù hợp với thời đại, và một vài điều khác thì không. Nếu đó là việc không còn phù hợp với thời đại nữa, thì dù có xuất sắc đến mấy cũng trở thành người vô dụng. Trước nay, cũng không thiếu các ví dụ để chứng minh cho nhận định ấy. Gần đây, tôi có biết về một người tài năng và đáng kính ở quê hương Nakatsu của chúng ta. Tất nhiên, theo tiêu chuẩn của nền văn minh ngày nay, một số điều anh ấy nói và làm có thể không đúng đắn. Nhưng đây là lỗi của thời đại, không phải lỗi của anh ấy, không phải anh ấy thiếu đi năng lực hành động. Chỉ là thật không may, đôi khi những người tài năng như vậy không gặp thời dẫn đến việc họ phải dành cả đời để vật lộn với loại tài năng như báu vật vậy. Đáng tiếc làm sao, đến tận khi già cỗi lìa đời, năng lực của họ rốt cuộc chẳng giúp ích được gì cho xã hội.
Thời đại đã đổi khác. Như tôi đã đề cập đến trước đây, đừng nghĩ rằng chỉ có những biến động của chiến tranh mới khiến tư tưởng phương Tây được khởi sinh, truyền bá, để rồi cuối cùng dẫn đến cuộc lật đổ chính quyền cũ và xóa bỏ chế độ phong kiến. Tác động của nền văn minh sẽ không chỉ dừng lại bằng một cuộc chiến. Vì vậy, sự thay đổi này không phải là sự thay đổi do chiến tranh gây ra, mà là sự thay đổi trong suy nghĩ của con người do nền văn minh thúc đẩy. Dù chiến tranh đã kết thúc bảy năm trước(2) và đã không còn dấu vết của nó, nhưng những dao động trong tâm trí con người vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Ta không thể dẫn dắt một đối tượng đứng im. Bây giờ là thời điểm đặc biệt tuyệt vời để ta thành người dẫn đầu trong học vấn, dẫn đầu xã hội và đưa nó lên một tầm cao hơn. Chính những học giả chúng ta ngày nay đang gặp cơ hội này. Nếu là như vậy, thì ta không còn lựa chọn nào khác ngoài nỗ lực vì lợi ích của toàn xã hội.
Tháng 5 năm 1873
—
Chú thích:
(1): giữa thời kỳ Edo, 1751-1764. (ND)
(2): ám chỉ cuộc chiến tranh Phục hưng kết thúc bằng trận Goryokaku năm 1878 (ND)

