TÁI PHỦ CÂY CHO TRÁI ĐẤT THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP TỰ NHIÊN
Trích: Gieo Mầm Trên Sa Mạc – Làm nông tự nhiên phục hồi sự sống trên phạm vi toàn cầu và giải quyết căn bản vấn đề an ninh lương thực; Biên dịch: XanhShop; NXB. Tp. Hồ Chí Minh
Masanobu Fukuoka (1913-2008) là nhà nông học và triết gia Nhật Bản, cha đẻ của nông nghiệp tự nhiên. Khoảnh khắc thay đổi cuộc đời ông đến năm 25 tuổi, khi ngất xỉu sau khủng hoảng tinh thần, tỉnh dậy bởi tiếng diệc kêu, ông nhận ra “bản chất thực của đời sống” và tràn trề niềm sửng sốt, vui mừng. Từ đó, ông dành cả phần đời còn lại sống và thực hành việc làm nông tự nhiên theo niềm tin và triết lý nhân sinh thức dậy bởi tiếng kêu của con diệc lúc hừng đông hôm ấy.
Sau thất bại ban đầu (vườn cam chết), ông thành công với ruộng lúa năng suất ngang hoặc vượt kỹ thuật hiện đại Nhật Bản, đất đai ngày càng màu mỡ; được tôn vinh “người nông dân vĩ đại nhất hành tinh”. Trong những thập kỷ cuối đời, từ những thành công tại nông trại ở Nhật Bản, ông đã đi khắp nơi trên thế giới (như Ấn Độ, Châu Phi, Philippines, Mỹ…) để tham gia vào các dự án chống sa mạc hóa và phục hồi thảm thực vật ở những vùng đất suy thoái. Phương pháp nặn “viên mầm” (trộn hạt giống vào đất sét rồi rải tự do) của ông đã giúp tái tạo màu xanh cho rất nhiều khu vực khô cằn một cách tự nhiên và ít tốn kém nhất.
—

KHI VỊ GIÁM ĐỐC của Ủy ban phòng chống sa mạc hóa tại Liên hiệp quốc nói với tôi rằng ông nghĩ phương pháp làm nông tự nhiên của tôi có thể sẽ đắc dụng trong việc ngăn chặn sự bành trướng của sa mạc, tôi đã thấy ngạc nhiên. Dầu vậy, nhìn lại, tôi nhận ra rằng các kỹ thuật mà tôi đã phát triển qua nhiều năm ở Nhật Bản, trong thực tế, có thể đem ra sử dụng một cách hiệu quả để chống lại sa mạc hóa.
Kể từ thời Đồ Đá, người ta vẫn từng sống ở chỗ mà hiện tại là nông trại tự nhiên của tôi. Thời xa xưa, khu vực ấy đã được bao phủ bởi một cánh rừng già của ít nhất tám loài thủy sam thuộc họ những cây thông lớn cổ xưa (Metasequoia). Người ta nói rằng nơi này khoảng chừng một nghìn năm trước đã từng là trung tâm văn hóa địa phương. Khu vực này có thể đem so với Con đường tơ lụa khi xét tới cái cách nền văn hóa nở rộ, cho đến khi đất đai rốt cuộc cũng trở nên kiệt quệ, kéo nền văn hóa đầy sức sống đó lụi tàn theo. Đất đai ở nơi đã từng có thời là đất rừng màu mỡ này đến cuối cùng cũng bị xói mòn đến tận lớp đất sét bên dưới.
Nhiều năm trước, ở chỗ hiện tại là nông trại tự nhiên của tôi, người ta đã thử trồng quýt nhưng chúng phát triển không tốt, thế nên phần lớn họ bỏ đất hoang. Đấy là mảnh đất mà tôi đã bắt đầu khởi sự. Kể từ đó tới giờ, tôi đã biến đất ở khu vườn cây trái của gia đình thành đất màu mỡ y như đất rừng thời trước đây.

Khi tôi quay về nông trại của cha tôi sau chiến tranh, những cái cây trong vườn cam quýt đang sống một cách chật vật. Chẳng có mấy loại thực vật phủ trên bề mặt, còn đất thì đã trở nên cứng đơ. Lúc đầu, tôi nghĩ đất sẽ được cải thiện nhanh chóng nếu đem dương xỉ và thân cây mục tìm thấy ở trong rừng về chôn xuống, nhưng thử nghiệm đó là một thất bại, chủ yếu bởi vì phải tốn quá nhiều công chôn đủ lượng vật liệu thì mới tạo nên khác biệt đáng kể. Kỹ thuật làm nông hữu cơ đó xét cho cùng có thể giúp cải thiện đất trồng, nhưng nó đòi hỏi nhiều công lao động mà kết quả lại rất ít ỏi. Giống như nhiều kỹ thuật làm nông khác, đây là kỹ thuật mà xét về tổng thể là lỗ.
Khởi đầu của phương pháp làm nông “không-làm-gì-cả” đến với tôi khi tôi quyết định chỉ đơn giản trồng ngẫu nhiên, pha trộn cả cây ăn trái, rau, ngũ cốc và cỏ ba lá giữa những cây keo mọc trên sườn đồi, rồi quan sát xem cây nào phát triển mạnh, xem chúng xoay xở sống với nhau ra sao. Tôi không phát quang đất cũng không cày xới, và tôi cũng không sử dụng phân bón, thuốc diệt cỏ hay thuốc trừ sâu. Bây giờ, sau khoảng bốn mươi lăm năm, nó đã biến thành một rừng cây ăn trái. Tôi tin rằng các kỹ thuật mà tôi đã hoàn thiện sau từng ấy năm cũng có thể đem áp dụng để lấy lại màu xanh cho các sa mạc²⁷.
Và thế là, tuy sau này trong đời tôi đi theo giấc mơ tái lập thảm thực vật cho sa mạc, nhưng không giống như một nhà khoa học điển hình, tôi không cố thu thập số liệu hay thiết lập ra các phương pháp phòng chống sa mạc hóa một cách có hệ thống. Thay vào đó, các biện pháp phòng tránh sa mạc của tôi hoàn toàn theo trực giác và dựa trên sự quan sát. Tôi đi đến các biện pháp ấy bằng cách sử dụng một phương pháp suy diễn. Nói cách khác, tôi đã bắt đầu với nhận thức rằng sa mạc hóa diễn ra ở hầu hết các khu vực là do hiểu biết sai lầm và hành động lạc lối của con người. Lúc đó tôi đã tin rằng, nếu chúng ta loại trừ được những nguyên nhân này, tự nhiên nhất định sẽ tự chữa lành.
Nhưng thật không may, ở một số nơi, sự tàn phá tệ hại đến nỗi tự nhiên sẽ khó mà tự hồi phục được, nó thiếu ngay cả những hạt giống, là thứ sẽ hình thành nên nền tảng cho sự phục hồi. Công việc duy nhất mà con người phải làm ở những nơi như thế là đi thu thập hạt giống và những loài vi sinh vật mà tự nhiên cần, rồi gieo chúng xuống đó.
Một ví dụ tuyệt vời là nông trại tự nhiên của cô Aveliw, một phụ nữ đang làm việc cho tổ chức Magsaysay Foundation ở Philippines. Cô đọc cuốn Cuộc cách mạng một-cọng-rơm, tiến hành nghiên cứu thực tế và quan sát trên mảnh đất của mình trong gần mười năm, rồi thiết lập nông trại tự nhiên của mình trong bốn năm, chủ yếu là bằng việc vãi hạt giống và trồng cây. Cô đã tạo nên một thiên đường thực sự. Có đủ các loại cây ăn trái như chuối, đu đủ, ổi, sầu riêng, và vài cây cà phê. Bên dưới chúng là một lớp phủ đất rậm rạp gồm những cây lâu năm và cây phân xanh. Phong lan nở hoa rực rỡ khắp nơi, chim bay rào rào, còn cá bơi lội tung tăng dưới ao.
Đất trồng ở các hòn đảo Philippines thật ra là đất nghèo, và do nạn phá rừng bừa bãi, chẳng còn thấy những cánh rừng mưa nhiệt đới ở bất cứ đâu. Làm thế nào mà cô ấy lại có thể trồng một khu rừng rậm rạp phong phú đủ loại cây ăn trái như thế này trong chỉ có ít năm? Yếu tố bí mật chính là sự hòa hợp hiện hữu giữa cô Aveliw và tự nhiên.
Nếu chúng ta liệt kê những thứ cần thiết cho cây trồng sinh trưởng thì ánh nắng mặt trời, dưỡng chất, nước và không khí là đủ để tạo ra một thiên đường. Mọi yếu tố đó đều được bản thân tự nhiên tạo ra cả. Ngay cả khi không có trong tay các nhạc cụ nhưng tự nhiên vẫn có khả năng trình diễn một bản nhạc giao hưởng hùng tráng.
Nếu ta tin vào sự thấu suốt mang tính trực giác, con đường sẽ tự mở ra theo cách riêng của nó. Nếu như ta tin rằng Philippines lúc ban đầu đã là một nơi thiên đường, rồi gieo hạt xuống nơi đó, tự nhiên sẽ tạo nên một khu rừng của sự phong phú, đa dạng và của vẻ đẹp. Tôi thấy cảm động sâu sắc bởi tấm gương của cô Aveliw.
—
Ông Fukuoka không nói rằng nông trại của ông là một sa mạc khi ông bắt đầu làm nông ở đấy, nhưng lớp đất mặt đã bị kiệt quệ và cần phải tạo lại sinh khí cho nó. Bản thân phần lớn sự phát triển của nông trại tự nhiên của ông là một dự án tái lập môi trường sống.
