TRÁI TIM THÔNG MINH VÀ LƯƠNG TRI DUY LÝ

TRÍCH: TƯ DUY DÃ TRÀNG – ; NXB HỒNG ĐỨC

01/04/2026
13 lượt xem

Bạn chỉ cần kéo một đầu sợi dây, bạn sẽ bất ngờ khám phá ra rằng mình đang giật cả mạng lưới của hệ thống Vũ trụ.

 

MỘT NHU CẦU, MỘT ĐÒI HỎI, MỘT NGHĨA VỤ

Đã từ lâu, có lẽ hơn nửa thế kỷ, tôi đã nhiễm con “vi-rút” đặc biệt mang tên “tư duy hệ thống và thói quen suy luận nghiêm ngặt chặt chẽ”. Bệnh do “vi-rút” này gây ra thể hiện giống như một cơn điên đau đáu khắc khoải âm thầm. Tuy nói thế cho vui, nhưng kỳ tình cũng có chút thực trong đó. Vì cứ mỗi khi được nghe ai đó lập luận, trên tivi hoặc trong quán cà phê, tôi không khỏi tự hỏi xem kiểu lập luận đó có nghiêm túc, sát sao, đầy đủ hay không, để rồi thói quen đã trở thành một căn bệnh khó chữa, mà trong gia đình có nhiều thành viên bảo rằng tôi “hơi điên điên, không giống ai”!

 

Để lấy một ví dụ, tôi nhớ có lần mình đi qua một ngôi đền nhỏ tại một quận đông đúc của thành phố, thấy dân chúng tụ tập rất đông, khói hương dày đặc nghi ngút. Tôi tới gần hỏi thăm họ đang cúng bái ai. Có ông trạc tuổi cao nói với tôi đó là lễ cúng “Ba Bà”. Tôi lại xin phép hỏi thêm “Ba Bà” đó là ai thì chính ông cũng không biết, và chỉ phán thêm một câu: “Ba Bà linh thiêng lắm!”. Tôi không dám hỏi thêm vì biết chắc và biết trước rằng sẽ chẳng bao giờ tôi nhận được câu trả lời thỏa đáng, có đủ tính cách suy luận chặt chẽ khả dĩ làm cho tôi thỏa mãn. Nhiều lần như thế, ở nhiều nơi giống như thế, người ta sẽ nói cho mình nghe: có người cúng xong là trúng số độc đắc, hoặc có gia đình cúng bái xong là sanh được đứa con trai kháu khỉnh. Tôi thầm nghĩ, mình mà cúng thì có lẽ cũng chẳng được thêm tiền, và sợ nhất là sinh thêm một bọng con.

 

Một ví dụ khác rất thông thường. Tôi đọc đâu đó có người đưa ra trên mạng xã hội “5 thói quen của những người lãnh đạo thành công” hay “8 điều mà mỗi tỷ phú làm mỗi ngày”. Ở một nước Tây Âu sẽ chẳng có ai tin rằng cứ làm đúng tương nấy thói quen hoặc đủ 8 điều thì sẽ có kết quả tốt ngay. Tôi đã gặp vài người sùng bái những châm ngôn suông những điều nghe như thánh dạy đó, mang áp dụng triệt để, nhưng rồi chẳng thấy ai trúng độc đắc và cũng không mấy ai làm lãnh đạo thành công. Ở nước ta, với một số người, khuynh hướng quy nạp lý trí vội vã rất phổ biến, đôi khi đi tới việc gân cổ ngoan cố bảo vệ một thứ mà họ gọi là chân lý.

 

Thử hỏi thái độ lý trí của tôi không phải một kiểu “hội chứng” thì là gì? Quy nạp vội vã là một thiếu sót đáng tiếc, nhưng cứ mong mỏi lật tẩy lý luận quy nạp thì hẳn là một “hội chứng” trầm trọng, đến mức không chữa được, vì đơn giản nếu lý trí của tôi chưa thỏa mãn với những phản biện chắc nình nịch thì nó sẽ bị ám ảnh mãi không thôi. Phải nói rằng bảy năm bị nhồi toán cao cấp, cộng với 20 năm lân la đọc triết lý Socrates, Kant, Voltaire, Lão Tử, và những lúc tập học về triết lý của đạo Phật đã biến tôi ra như vậy.

 

Trong mấy chục năm học và làm việc tại Pháp, tôi đã lần lượt bị các giáo sư toán, lý, hóa, dân số học, kinh tế, quy hoạch… nhồi, quay, vấn, thậm chí mắng mỏ thậm tệ để cuối cùng tôi phải mang bằng được lý trí vào cuộc chơi, lập luận suốt buổi như một trò giải trí, sử dụng cho bằng được tất cả mọi kiểu lý luận, trong đó có lý luận hệ thống. Thậm chí khi còn ở học đường, tôi cùng với cả lớp từng bị sỉ nhục (dù dí dỏm nhẹ nhàng thôi) bởi những giáo sư người Pháp khó tính, dù thật ra điều đó xuất phát từ tình yêu thương và lòng mong mỏi học trò sớm thành công. Họ tỏ ra ngạc nhiên với những lời nói của tôi mà họ bảo là không đầu không đuôi, không dẫn chứng, không cấu trúc, không mạch lạc, ngây ngô vì không có tư duy tổng hợp, không có nền tảng, nội dung cũng không, và dẫn lối cũng thiếu. Đặc biệt nhất là ông thầy Vật lý Cao học tại trường Janson de Sailly, nơi tôi nội trú ba năm để chuẩn bị thi tuyển vào Trường Cầu Đường (Ecole Nationale des Ponts et Chaussées). Thầy André cứ nhai nhải cho cả lớp nghe: “Những lời phát biểu của anh Phan giống như cái củ “saucisse” (lạp xưởng) treo lủng lẳng trên trần nhà, chẳng liên quan tới thực tế của môi trường chung quanh. Học kiểu đó đâu phải là vật lý, mà chỉ chứng tỏ đơn thuần rằng mình có trí nhớ. Nói chung các anh chị kém cỏi quá!”.

 

Sau này khi tôi mới đi làm bên Pháp, trong những buổi đàm luận gay go, hoặc chỉ đơn thuần trong một cuộc đi chơi, ít khi tôi được mời. Đó cũng là một hình thức trừng phạt, tuy vô hình nhưng vẫn ngấm ngầm làm cho tôi mất mặt và luôn luôn buồn bã. Tôi biết tại sao. Thời ấy người Pháp nói chung thấy người Việt thường có ý kiến mang phong cách quy nạp, nhưng chẳng chịu bỏ công bỏ sức chứng minh cái gì cho nên hồn. Và điều khiến họ ngạc nhiên nhất là nhiều người Việt nghĩ giống nhau như đúc với những kiểu tư duy như tới từ một khuôn mẫu, nhất là trên những đề tài rất cá nhân mà lẽ ra là cơ hội cho mỗi người có những suy tưởng riêng tư. Nhưng thỉnh thoảng, cũng có một anh Tây thủ thỉ thật lòng với tôi: “Nói cho cùng thì các anh các chị rốt cuộc cũng đi tới được những kết quả mà chúng tôi đi tới, đôi khi nhanh hơn chúng tôi, nhưng hình như anh chị chỉ sử dụng trực giác. Sao các anh chị sử dụng trực giác bừa bãi thế!”. Khó lòng đồng tình với ý kiến này, nhưng rồi mình thấy anh bạn cũng có lý phần nào.

 

Và đây, bạn ạ, chính là trọng tâm của vấn đề: tôi đã xuất phát những ý nghĩ của mình từ trí tuệ của một người Việt, tâm hồn của một người Á Đông… Chẳng hiểu sao người Tây phương cứ thường đánh giá là tôi nghĩ ngược họ, ít ra cũng chẳng giống họ mỗi khi tôi tỏ ra thành thực, hồn nhiên với những ý tưởng của mình. Mãi đến sau này, khi tôi hiếu kỳ tham khảo sách về Tâm lý học, mọi chuyện mới hiện lên rõ nét hơn, đúng là người Á Đông có nét khác người Tây Âu. Hình như trái tim, tấm lòng, trực giác linh động hơn khi chúng ta dẫn lý, trong khi họ lại rất cặn kẽ trên định nghĩa và ý nghĩa của mỗi chữ. Họ từ chối mọi lập luận mang cảm xúc, dù chỉ một tẹo, mà chỉ chấp nhận những kết quả tới từ suy luận bằng lý trí và quan sát khách quan.

 

Ngay ở đây, tôi cũng xin bạn đọc chú ý. Có thể người Tây Âu phủ nhận những lý luận thiếu nền tảng hoặc thiếu chặt chẽ về lý trí, nhưng chính họ cũng đang nghiên cứu về những thế giới ngoại cảm (metrasensoriel). Việc họ đã nhìn nhận rằng toàn bộ tri thức của họ nằm trọn trong tâm thức lý trí (conscience analytique) là bước đầu. Họ cũng nhìn nhận sự hiện diện không thể chối cãi của tâm thức ngoại cảm (conscience extrasensorielle) khi linh hồn đi ra ngoài cơ thể. Đó là một bước dài để họ tới gần chúng ta. Họ cũng trải nghiệm những buổi thiền, những cấu kết tới từ linh tính, nhưng họ muốn đạt tới khả năng giải thích tất cả những hiện tượng tâm linh bằng lý trí và bằng những thí nghiệm vật chất cụ thể và thuyết phục. Nói một cách khác, họ đang nỗ lực tiến tới gần trạng thái của chúng ta. Có lẽ điều thú vị nhất có khả năng xảy ra là chính chúng ta cũng cần có đóng góp khoa học giúp toàn cộng đồng hiểu rõ hơn về cả hai thế giới: thế giới lý trí và thế giới tâm linh. Trong suốt chiều dài của cuốn sách này, tôi sẽ không lúc nào đánh giá thấp thế giới tâm linh. Tuy nhiên, mục tiêu chính của tôi vẫn sẽ là dẫn dắt bạn đọc hiểu rõ hơn thế giới của tư duy hệ thống và suy luận qua lý trí. Thiếu cái gì thì tập trung vì cái đó!

 

TƯ DUY VÀ SUY LUẬN LÀ HAI THỨ KHÁC NHAU NHƯNG CẦN CÓ NHAU

Suốt mấy chục năm ròng, tôi đã được các thầy ở bên Pháp công phu tiêm cho tôi mọi liều thuốc liên quan đến những phương pháp suy luận nói chung, rồi sau đó tự mình sử dụng lý trí độc tôn để lật ngang lật ngửa mọi vấn đề, bằng khoa học là chính. Và quả thực, tôi đã áp dụng những phương pháp lý luận này để học toán và triết. Có lẽ hai môn này tận dụng lý trí một cách triệt để, sử dụng lý luận hệ thống một cách toàn diện nhất, đầy đủ nhất, chặt chẽ đến không để sót một khe hở, không xử thiếu một tình huống, không bỏ sót bao giờ một giải pháp. Nói ngược lại cũng đúng, vì chính khi học triết và toán, mình mới dễ vỡ ra những cách suy luận nghiêm ngặt dần tới kết quả mong muốn mà không ai, không lập luận nào có thể phản biện duy lý được. Rốt cuộc, tuy có mất thời gian, tôi cũng đã nhiễm luôn loại “vi-rút” này!

 

Ngay tại đây tôi cũng xin mạo muội đưa ra một giả định hoàn toàn cá nhân. Tôi đã rất ngạc nhiên khi có dịp nhận ra rằng mình mất công phu hơn các bạn học cùng lớp người Ấn Độ, Do Thái hay Liban để nắm vững những phương pháp suy luận. Tôi thấy họ hấp thụ những phương pháp lý luận được dạy trong lớp dễ dàng hơn tôi nhiều. Họ lập luận dễ như uống nước. Sau này tôi đã đi đến một giả định: Người Việt chúng ta ít thích lập luận, đúng hơn là có khuynh hướng tránh lập luận. Có vẻ như chúng ta thích giáo điều hơn, thích học thuộc hơn, và chuyện dĩ nhiên là không thích ai khác mình. Điều đó có lẽ đã giúp cho tư duy bầy đàn xuất hiện? Có phải do văn hóa của chúng ta thường tránh những trao đổi gay go, dài lâu, để giữ tình cảm là chính? Trong văn hóa của chúng ta, ít khi nào thấy người con lập luận quá gay go với người cha, người mẹ (chữ hiếu quan trọng hơn lẽ phải chăng?). Ít khi nào ta được chứng kiến một người trò lập luận và phản biện “ăn thua đủ” với người thầy, dù được chính thầy cho phép hoặc khuyến khích (sự kính nể vẫn quan trọng hơn chân lý chăng?), và việc “thầy bảo mình nghe, học thuộc” đã từ lâu được xem như một định luật. Ở Pháp nhiều năm, trong các doanh nghiệp, tôi đã được chứng kiến và đích thân trải nghiệm nhiều cuộc đấu lý nghiêm ngặt giữa sếp và nhân viên trong tinh thần tôn trọng và phục thiện. Vào những lúc đó, tôi mới thấu hiểu được thế nào là phục thiện về mặt lý trí, chẳng có ai thua ai thiệt, ai thắng ai áp đảo. Sự phục thiện chỉ có mục đích đi tìm chân lý mà mọi người đều tham gia một cách bình đẳng và tích cực. Chẳng tìm đâu ra cảm tính, mà chỉ toàn lộ trình chân thực đi tới chân lý! Cuộc đấu lý như thế mới có ý nghĩa vì nó tạo giá trị, từ sự cọ xát mới nẩy ra những ý tưởng mới mẻ, và sự cộng hưởng mới xuất hiện từ đó. Trong truyền thống của chúng ta, nói một cách tương đối, dẫn lý sẽ bị đánh đồng là “lý sự cùn”, còn dẫn lý dài hơi sẽ bị xem như một kiểu dở hơi, hoặc nặng hơn là hỗn xược, thậm chí ấu trĩ thiếu trưởng thành.

 

Phải nói rằng triết lý Á Đông và Âu Tây khá khác nhau, nếu không muốn nói là trái ngược khi nhắc đến chuyện lý trí. Trong sách này tôi sẽ thỉnh thoảng nhắc đến câu của René Descartes, “Je pense donc je suis” (Tôi tư duy, tức tôi đang tồn tại), và câu của Blaise Pascal, “L’homme est un roseau pensant” (Con người là một cây sậy biết suy nghĩ). Phía Á Đông, bạn đọc hãy tưởng tượng ba gương mặt đại diện cho thói quen của nhiều người: một che mắt, không nhìn, một che tai, chẳng nghe, và một che miệng, nhất thiết không phát biểu. Hai văn hóa rất đối nghịch, chúng ta hãy chớ lầm. Một bên chuyện gì trong cuộc sống cũng cần được giải thích, phân tích, tìm hiểu tại sao, thế nào, để làm gì, còn giải pháp nào khác không, có ai không đồng ý mà phản biện không? Bên kia, là chúng ta, thì tôi tình nguyện không quan sát, tất nhiên tôi chẳng thấy gì, mà có cái gì chăng nữa tôi cũng không muốn biết; rồi tôi cũng chẳng nghe gì, tất nhiên không có động tĩnh nào tôi có thể chứng kiến, và tôi cũng chẳng thể có ý kiến nên chẳng có gì để nói… Tất nhiên, đâu đó trong triết lý và văn hóa, tôi không hề quan tâm, tôi không thể khẳng định và tôi cũng chẳng thể liên quan! Một văn hóa Âu Tây trong đó mọi thứ đều liên quan hệ thống, được quan sát với con mắt và trí tuệ theo dạng lý trí. Còn bên kia là tôi không muốn liên quan. Còn đâu là tư duy hệ thống nếu không có cái gì liên quan với nhau? Có phải đó là tư duy tách bạch, hoặc nói rõ hơn là thái độ cục bộ không?

 

TÔN TRỌNG LUẬT CHƠI CHUNG

Tôi xin kể cho bạn đọc nghe một câu chuyện trong lớp Xã hội học khi tôi còn ngồi ghế học viên tại Trường Quốc Gia Cầu Đường (Pháp Quốc). Ông thầy đặt một câu hỏi đơn giản cho mỗi người (lớp kỹ sư của chúng tôi chỉ có 70 học viên):

 

 

Hôm nay, chúng ta học về tâm lý phản ứng của xã hội trước một tình huống. Xin nói trước là câu hỏi đã được đặt theo phương pháp ngẫu nhiên tại 60 quốc gia, đi từ các nước châu Á sang Âu rồi sang Mỹ, Úc. Tình huống như sau:

 

“Bạn đang ngồi trong xe ô tô, ghế khách đằng trước. Người cầm tay lái là một người bạn thân. Bất thình lình anh bạn thân gây một lỗi nhỏ và là quẹt nhẹ vào một xe đang đậu bên lề đường, làm xướt cả mảng thân xe. Vậy phản ứng của bạn là gì?

 

Giả vờ không nhìn thấy, và khuyên anh bạn lái xe cứ tiếp tục hành trình, chẳng sao đâu.

 

Khuyên anh bạn nên dừng xe và để lại số điện thoại, xin lỗi và xin đền.

 

Bạn xin làm nhân chứng tích cực, xin để lại luôn cả số điện thoại của mình, và cũng báo cáo riêng lời khai sự cố giao thông.

 

Khuyên anh bạn dừng xe, đợi chủ xe bị nạn trở về để làm biên bản pháp lý chặt chẽ.

 

Xong đâu đó, thầy lại cho một bài khó hơn:

 

Cùng một câu chuyện về tai nạn, ví dụ như anh bạn lái xe gây lỗi, nhưng lần này xe đụng mạnh móp luôn xe người ta. Vẫn không có ai chung quanh làm nhân chứng trừ hai người trong xe gây tai nạn. Bạn ước lượng chỗ xe bị móp nặng cũng phải tốn rất nhiều tiền sửa, chưa tính đến chuyện có tổn hại gì khác. Nếu là người khách ngồi xe gây ra lỗi, bạn sẽ làm gì?

 

Trong cả hai câu chuyện, phản ứng của người Á Đông nói chung là rất khoan hồng với người bạn lái xe gây ra lỗi (nhân danh tình bạn chăng?). Trong khi đó, người Tây Âu phần đông mang lý trí và luật pháp ra để luận việc phải làm. Tình bạn đã đành, nhưng trách nhiệm trước pháp luật và lương tri con người phải cao hơn. Thậm chí, người Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan hay Đan Mạch đều nghĩ rằng trong mọi điều kiện, phải khai báo với cảnh sát giao thông cho dù chủ xe không có mặt, và nộp phạt dù tiền phạt cao bao nhiêu. Người Nam Âu lại phản ứng khác, cho rằng để lại số điện thoại là việc phải làm, tuy nhiên tai nạn không đáng để mất thì giờ, và họ sẽ đi luôn không màng đợi cảnh sát hay người chủ xe bị nạn. Họ sẽ cho rằng mình phản ứng như thế là đúng lương tri và đúng luật.

 

Như vậy, chúng ta thấy được tâm lý phản ứng trong xã hội và văn hóa của mỗi dân tộc khác nhau nhiều. Trong khi thông thường, người Mỹ tham khảo luật sư, người Bắc Âu tự động nạp mình cho cảnh sát, người Nhật cố giữ thể diện của người không làm lỗi, người Hoa thỏa thuận tiền bồi thường rồi cho thông qua, thì người Việt chúng ta sẽ làm gì?

 

Rút cục vị thầy kết luận cho lớp học rằng: Càng có tư duy hệ thống thì càng dễ nắm được tổng quan tổ chức xã hội và luật chơi, càng có tinh thần cộng đồng. Cũng biết suy luận thì càng theo sát luật chơi. Tư duy cục bộ thường đưa tới những ý nghĩ đôi khi quá hạn hẹp, thậm chí vô trách nhiệm.

 

Nắm được tư duy hệ thống cũng giống như bạn đã được thoải mái về mặt tư duy. Thoải mái là vì chúng ta không còn khuôn khổ cứng nhắc phải tôn trọng một cách máy móc, không còn quy trình phải tuân thủ một cách kỷ luật, hoặc sách vở phải thuộc răm rắp mà vẫn không hiểu tại sao. Khi đã nắm được lý luận hệ thống, chúng ta sẽ là chính mình, vì những suy nghĩ của ta không bị ảnh hưởng bởi bên ngoài, chỉ còn việc tuân thủ những kết luận mà lý trí tự thân dẫn tới. Chúng ta sẽ không còn là một bản sao của ai đó, bởi điều gì ta chứng minh được thì cho dù có cả đạo binh phản công trước mặt cũng không có gì đáng sợ. Con người đã nắm tư duy hệ thống sẽ luôn luôn thủng thẳng trước mọi cuộc đấu trí vì họ chỉ nể trọng mỗi chân lý. Họ cũng không còn sợ chính bản thân nữa, vì tự ái đã được chuẩn bị để sẵn sàng nép mình phục thiện, bởi bản chất của những cuộc lập luận và phản biện là cùng nhau đi tới chân lý và sự quy phục của mọi bên đối tác. Nói một cách khác, tư duy và lý luận theo lẽ phải, cho dù là luận lý khoa học hay pháp luật, đều đã có sẵn sức mạnh, dù không phải kiểu vũ lực để đàn áp ai. Với sức mạnh đó, chỉ còn văn hóa truyền thống mới thỉnh thoảng có khả năng chiếm ưu thế.

 

Với những suy nghĩ đó, tôi đã hào hứng bắt tay viết cuốn sách. Nhưng tôi sẽ không viết cho học giả hay những bạn nào đã nắm kiến thức này rồi. Tôi sẽ viết cho những bạn trẻ đang toan tính khởi nghiệp, những người chưa có cơ hội được đi học bài bản mà vẫn muốn kinh doanh, cho những bạn chỉ vận hành bằng trí nhớ, bằng cảm xúc hay cái gì khác ngoài lập luận lý trí. Đúng như nguyên lý của Hệ sinh thái Cấy Nền, tôi sẽ viết cho những “cánh chim cuối đàn”, vì tôi tin tưởng như bàn thạch rằng xã hội chúng ta sẽ văn minh và nước chúng ta sẽ phát triển mạnh nếu các cánh chim cuối đàn bắt kịp đàn đang bay. Bạn đọc hãy đừng tìm trong cuốn sách này những ý tưởng cao xa, những kiến thức hàn lâm hay những định nghĩa tổng hợp. Nói một cách khác, tôi đã chọn lựa những ví dụ thường nhật, những tình huống bình dân để minh họa và giải lý: Đây là sách của những con người còn hơi xa lạ với những thói quen suy nghĩ đáng lẽ phải có ngay từ khi còn nhỏ tuổi.

 

Tôi luôn tự nhắc nhở rằng nếu mình muốn thực sự nghiên cứu về những phương pháp duy lý hoặc những chiều rộng và sâu của giác quan thì cả chuỗi đời còn lại cũng không tham khảo hết nổi những tác phẩm của Descartes, Kant, Einstein, và biết bao nhiêu vĩ nhân khác. Ở đây chúng ta sẽ cùng những cánh chim cuối đàn bước một bước đầu, họa may thêm một bước sau, nhưng chúng ta sẽ dừng tại đó để họ tự bước tiếp. Mục tiêu chỉ đơn thuần làm cho độc giả thấm được rằng chúng ta không thể mãi sống bám vào giác quan và lòng tin đơn sơ mà không tự nhủ phải động viên cả lý trí. Thiếu điều đó, chúng ta sẽ không bao giờ độc lập trong lập luận, tự do trong tư duy, và tất nhiên không thể đứng vững trước những con người của thế giới duy lý, dù chỉ một phút. Đó là một phút của sự tự tin mà chúng ta thiếu, một phút mà đáng lẽ đối tác phải lắng nghe chúng ta phát biểu. Họ sẵn sàng lắng nghe vì tin chúng ta cũng có suy nghĩ khác biệt, tư tưởng sắc sảo và tinh hoa mà họ cần lĩnh hội, nhưng tiếc thay, khả năng truyền thông kém và lập luận lỏng lẻo của chúng ta khiến câu từ thiếu cấu trúc và ý tưởng thiếu mạch lạc. Từ đấy mà muốn thuyết phục thì quãng đường còn xa tầm tay.

 

Sách này cũng là một cơ hội để nhận định sự ngã ngũ của cuộc giao tranh giữa trái tim và lý trí. Nhà văn Mark Twain có lần phát biểu rất thâm thúy: “Hãy đừng dối lòng, quyết định nào của mỗi chúng ta bao giờ cũng tới từ trái tim, nhưng sau đó chính trái tim buộc lý trí phải biện hộ”. Thực ra, tư duy lý trí sẽ phải đối đầu với nhiều đối thủ nặng cân lắm, đứng đầu là Tâm Linh, rồi Trực Giác, rồi Văn Hóa Truyền Thống, rồi những Định Kiến, những Lẽ Thường, và sau cũng là Big Data, một sản phẩm của ngành thống kê và tiếp thị đi đôi với các công nghệ Trí Thông Minh Nhân Tạo (AI). Với tương nấy đối thủ, khả năng thua là cao. Nhưng khi thắng thế rồi thì bạn sẽ trở nên người thông tuệ.

Chỉ cần trái tim thông minh và lương tri duy lý hơn một chút.

 

Tôi sẽ đưa các bạn vào một thế giới thật đơn giản mà cách lý luận hệ thống sẽ hiện ra một cách tự nhiên. Bạn đọc sẽ nhiễm con vi-rút “lý luận hệ thống” lúc nào không biết, và từ thời điểm này các bạn sẽ dần dần từ bỏ cách học rút, học thuộc, học tủ. Đó là những kiểu học để chóng quên! Lý luận hệ thống sẽ không phải học, mà chỉ là hấp thụ cách sử dụng trí óc như Vũ trụ muốn chúng ta sử dụng khi sinh ra. Tôi mong các bạn hiểu được ý này.

 

Các bạn đọc sẽ gặp trong cuốn sách này những lý luận hoặc luận điệu kiểu suy diễn (déduction), quy nạp (induction), phủ định hoặc phản chứng (raisonnement par l’absurde), loại trừ (raisonnement par elimination), ví dụ phản bác (contre-exemple), tách rời các trường hợp (disjonction des cas), luận điệu đưa tới cực điểm (raisonnement poussé aux limites)… Đi xa hơn nữa là những luận điệu ngụy biện (sophisme) mà xã hội gặp hàng ngày, dẫu mọi người đều biết mà vẫn có số đông dễ bị rơi vào.

 

Còn bao nhiêu kiểu lập luận khác nữa. Sách bạn đang cầm trên tay không phải là nơi định nghĩa những phương pháp lý luận này, nhưng sẽ giúp cho bạn hiểu rằng trước bất cứ tình huống nào, mỗi người đều phải vận dụng trí tuệ để tách bạch chuyện dương với tất cả những thứ âm, ảo, đối, gian, ngụy. Bất cứ thời điểm nào, tình huống nào, bạn đọc luôn luôn phải nhớ đến nghĩa vụ tự phóng thích trí tuệ. Nếu để cho sự ngụy biện tràn ngập tư tưởng thì bạn có thể chắc chắn rằng con đường mình đang đi sẽ không dẫn tới chân, thiện, mỹ. Lúc đó bạn sẽ bị cái giả, cái sai, cái giam cầm. Bạn sẽ không thể tiếp tục đặt mình quá lâu trong đó.

 

Nếu sau khi đọc xong cuốn sách này, và đứng trước bất cứ vấn đề nào mới mẻ mà bạn cứ thản nhiên, bình tĩnh đi vào nội dung bằng lý trí thuần khiết để tìm giải pháp và những hệ lý liên quan, tôi sẽ rất vui vì biết được rằng bạn đã nắm được con đường đưa bạn vào nguyên lý của tư duy hệ thống. Nói cho cùng, trước sau gì cũng phải đi tới lý luận và tư duy hệ thống thôi, vì toàn Vũ trụ là một hệ thống. Một, chỉ có một thôi. Mọi việc, mọi yếu tố, mọi sinh vật, vạn vật đều chỉ quy vào một Vũ trụ.

 

Đường sẽ còn dài, vô tận đấy, nhưng đầy lý thú và sẽ nhào nặn bạn thành một con người vững chãi, mạnh mẽ. Lúc đó, và chỉ lúc đó thôi, bạn mới ngỡ ngàng cảm nhận được rằng ngay khi mình mới sinh ra, Vũ trụ đã trang bị sẵn cho bạn mọi vũ khí cần thiết để sinh tồn, chẳng khác gì những người của thời thượng cổ sinh sống trên Trái Đất này cách đây hơn 100.000 năm. Đi hết con đường là bầu trời tự tin, tự quyết, tự tại, tự quản, và tự lực tự cường. Xin chúc mừng bạn. Vì ngay sau đó thì bạn sẽ tự hào.