THUYẾT TƯƠNG THUỘC

Trích: Một Cuộc Sống Trí Huệ; Người dịch: Thiện Quang; NXB Hồng Đức.

03/02/2026
19 lượt xem

Ý thức bản ngã hoạt động trong tất cả mọi suy nghĩ của chúng ta một cách tinh tế. Tuy nhiên, nếu như có thể tự huấn luyện mình để công nhận rằng, cái tôi và những người khác thật sự hiện hữu trong mối quan hệ tương thuộc, chúng ta sẽ cảm nhận được sự thôi thúc cần phải nói lời cảm ơn bất cứ ai, bất cứ việc gì.

Thông thường, chúng ta không nhìn nhận các sự việc như vậy, vì tâm trí ta đã bị ô nhiễm bởi ý thức
bản ngã, nhưng nếu như có thể nhìn các sự việc từ một quan điểm không bị ô nhiễm bởi ý thức bản ngã, thì một thế giới khác sẽ hiện diện. Chúng ta sẽ nhận thức được sự thật, ta hiện hữu là nhờ sự hiện hữu của những người khác. Các Phật tử đã gọi cách suy nghĩ này là thuyết tương thuộc, được thể hiện ở dạng công thức như “một khi điều này hiện hữu thì điều kia cũng hiện hữu; khi điều này dừng hiện hữu thì điều kia cũng dừng hiện hữu”.

Thuyết tương thuộc phản ánh nguyên lý cơ bản nằm ẩn sâu bên dưới tất cả các quy luật khác, cho dù là quy luật vật lý, tâm lý hay đạo đức. Đạo lý dạy con người phải yêu thương, tôn trọng và biết ơn những người khác, còn các triết lý và niềm tin thì phức tạp hơn nhiều, một khi chúng ta cố gắng biện minh cho việc hành động một cách khác biệt. Nhưng nếu chúng ta lặng lẽ xem xét thực tế đơn giản về sự tương thuộc, các cảm xúc được diễn đạt bởi lời cảm ơn và sự tôn trọng dành cho những người khác sẽ tuôn trào tự nhiên. Ví dụ, khi có được chỗ ngồi trên một chuyến tàu đông người, tôi sẽ thể hiện lời cảm ơn dành cho người đứng trước mình, cho dù chỉ là lời cảm ơn lặng lẽ trong tâm trí. Sở dĩ như vậy, chỉ vì tôi là người có đặc quyền ngồi trong khi người khác phải đứng. Đây chính là một thực tế. Theo cách này, một khi nắm bắt các sự việc theo cách có mối liên hệ phù hợp với thuyết tương thuộc, chúng ta sẽ có thể nhận biết được thực tế, thay vì cứ ôm giữ các quan điểm xung đột dựa trên sự phân biệt giữa cái tôi và những người khác.

Thông thường, chúng ta nhận biết các sự vật bằng việc biệt hóa bản thân ta và những người khác – cái tôi chính là tôi, và người khác là người khác. Tuy nhiên, nếu như nghĩ về các sự việc trong mối liên hệ tương thuộc, chúng ta sẽ tự nhiên phát triển được các quan điểm mang tính đạo đức, cho dù có niềm tin hay không. Một khi tiếp cận cuộc sống theo quan điểm này, ta sẽ dễ dàng sống giữa mọi người với thái độ hòa nhã và tự do hơn.Thông thường, chúng ta chìm sâu vào những dòng suy nghĩ của riêng mình, và lãng quên những người khác. Chúng ta cũng không muốn bị quấy rầy; vì nghĩ rằng mình có quyền ở một mình với chính mình. Đó chỉ là vì thói quen, chúng ta cho rằng mình hiện hữu và tách rời những người khác – rằng chúng ta hiện hữu trong sự tách biệt. Nhưng nếu nhìn nhận một cách sâu sắc hơn về các sự việc, chúng ta sẽ thấy rằng, một cái tôi đơn độc như vậy không hiện hữu. Tôi không ngồi một mình trên chuyến tàu; tôi đang hòa mình với những người khác trước mặt mình. Những người khác sẽ phản ánh tôi, và chúng tôi phản ánh nhau.

Nếu như có mười người trong toa tàu, tôi sẽ hiện diện trong tâm trí của từng người như một hình ảnh. Tôi muốn nói với họ, “Bạn không ở đó một mình! Bạn đang được phản ánh trong mỗi người trước mặt bạn!” Cuộc đời tôi đã biến đổi khi tôi nhận thức thực tế rằng, mình đang hiện diện trong tâm trí những người khác – khi tôi nhận thức, tất cả chúng ta đều đang tuôn trào vào những người khác. Đây chỉ là một thay đổi thật sự đơn giản, nhưng chúng sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức chúng ta nhìn nhận chính mình trong thế giới này.

Một khi các hành động của ta thay đổi, các cảm giác của ta về sự hài hòa với những người khác sẽ tự nhiên len lỏi vào mọi ngóc ngách trong cuộc sống hàng ngày. Con người hiện hữu một cách tương thuộc, và tôi cũng đã học được một chút gì đó về điều này qua việc luyện tập võ thuật. Võ thuật Nhật Bản thông thường sử dụng khái niệm được gọi là aiki, có nghĩa “hiệp khí”. Về ý tưởng là khi hai võ sĩ cài tay nhau, một người đẩy tới với một lực hai mươi pound, người kia phải kéo lại bằng một lực bằng như vậy để thoát ra. Nếu như một võ sĩ rút lui với một lực hai mươi pound, người kia phải đuổi theo với cùng một lực. Một khi sử dụng nguyên lý này thì các cánh tay của hai võ sĩ sẽ luôn kết nối nhau, không bị tách rời, và họ sẽ có được cảm giác về sức căng và sự chuyển động trong cơ thể của người kia. Đây chính là lý thuyết tổng quát về nhu thuật: kéo khi bị đẩy, đẩy khi bị kéo. Chúng ta cũng có thể áp dụng nguyên lý này vào cuộc sống, vì nguyên lý này đề cập đến sự hài hòa bằng ý niệm tương thuộc.

Ngoài việc học hỏi nhằm đáp ứng phù hợp trong cuộc sống tương thuộc với những người khác, chúng ta cần phải tiếp cận những người khác bằng các hành động của mình như thế nào? Một trong những thực hành đầu tiên mà người Phật tử thực hiện nhằm trau dồi bản thân, là việc thực hành cho đi. Nếu như cảm thấy đặc biệt gắn bó vào bất cứ thứ gì đó mà mình đang có, chúng ta sẽ có thể bắt đầu thực hành việc cho đi theo cách đơn giản nhất. Tôi đã học được việc chính mình có thể cho đi, ngay cả khi tôi không có gì để cho ngoài tấm lòng, tuy nhiên tôi vẫn nhớ, việc cho đi đã khiến tôi cảm thấy thanh thản như thế nào.

Còn có một điều gì đó đã tạo ra sự an tâm khi mình có được khả năng thực hiện một hành động tốt đẹp.
Làm sao có thể đạt được điều này?

Chỉ cần luôn tiếp cận người khác bằng nét mặt hòa nhã đáng yêu, và những lời nói dịu dàng. Một nét mặt hoa nhã và những lời nói yêu thương thật sự là điều quan trọng, đặc biệt khi chúng ta đã lớn tuổi, yếu đuối về thể xác, và cảm thấy khó khăn hơn khi thực hiện việc trao tặng với những người khác. Một nét mặt hòa nhã và những lời nói yêu thương sẽ luôn đem lại niềm hạnh phúc và cảm giác khuây khoả. Ngay cả khi không có tiền, bạn vẫn có thể trao cho những người khác món quà này.

Nói chung, chúng ta thường hay lo sợ về tuổi già và nhìn nó một cách tiêu cực. Sự lão hóa có những khía cạnh bất lợi, tuy nhiên những khía cạnh tích cực về sự lão hóa lại lớn hơn nhiều. Ví dụ như, chúng ta đã thu hoạch từ những trải nghiệm trong suốt cuộc đời cho đến thời điểm này. Việc tích luỹ trải nghiệm không phải là điều tệ hại cho những người khác hoặc cho chính ta. Cũng như các quả xanh sẽ chín để có được hương vị thơm ngon, con người cũng cần phải trưởng thành và chín chắn, phát triển một trạng thái tâm trí tốt đẹp để đem lại một sống an bình. Khi nhiều tuổi hơn, tôi vẫn hy vọng mình sẽ có thể mang lại cảm giác ấm áp cho những người khác, ngay cả khi tôi đang ngồi lặng lẽ trên một chuyến tàu.

Ăn uống là để duy trì cuộc sống, nhưng dường như chúng ta không thỏa mãn với việc thu nhận thức ăn chỉ đơn thuần là tiến trình cơ học hay vị lợi. Ăn chính là một cơ hội tuyệt vời để suy nghĩ về con người. Các động tác đơn giản trong một bữa ăn chính là cơ hội nhằm hướng nhận thức của ta vào một sự thật sâu xa hơn: cuộc sống chúng ta được duy trì nhờ vào lòng tốt của những người khác.

Chúng ta hãy thử điều này vào bữa ăn sắp tới: trước tiên, hãy giữ một ít thức ăn trong miệng và tập trung nhận thức của mình vào nó. Chúng ta hãy thưởng thức mùi vị một cách thong thả và sâu sắc. Khi thực hiện việc này, cảm giác biết ơn sẽ xuất hiện. Một số lượng vô hạn các điều kiện cần phải có để tạo nên bữa ăn của chúng ta. Thế giới đã được hình thành theo cách cân bằng thỏa đáng các yếu tố, nhằm hỗ trợ cho sự sống dẫn đến các loại thực vật và động vật. Chuỗi nhân quả nếu như được truy ngược trở về trước, sẽ không bao giờ kết thúc. Nếu như thiếu đi bất cứ khâu nào trong mạng lưới ngẫu nhiên rộng lớn và vô tận này, khoảnh khắc thưởng thức bữa ăn của chúng ta sẽ không bao giờ được diễn ra.

Xa hơn nữa, chúng ta hãy xem xét cơ thể chính mình. Chúng ta có hệ thần kinh, não bộ và khoảng sáu tỉ tế bào, tất cả đang cùng nhau hoạt động nhằm giúp ta có được khả năng thưởng thức mùi vị thức ăn.
Chúng ta cũng có thể nhận thấy chuỗi nhân quả đã được hình thành trên cơ thể: từ sự sống nguyên sơ cho đến sự ra đời của ta; thông qua môi trường và việc giáo dục thuở ban đầu. Hiện tại vẫn còn vô số những điều đã hỗ trợ chúng ta trong hư không: trái đất nơi chúng ta đang đứng sẽ giữ cho cơ thể ta tựa vào nó bằng trọng lực, mặt trời cho chúng ta ánh sáng và hơi ấm; ngoài kia là những vì sao xa xôi. Tất cả đều hỗ trợ cho chúng ta. Không có sự khác biệt về việc chúng đang ở trong tầm tay ta, hay là đang ở nơi nào đó xa xôi trong vũ trụ.

Trong thực tế, chúng ta đang sống và được hỗ trợ bởi một số lượng vô hạn sức mạnh hợp lưu của các yếu tố ngẫu nhiên và có điều kiện. Một khi trí huệ tăng trưởng, cái tôi tưởng tượng của chúng ta sẽ bị thu hẹp từng chút một, sau cùng sẽ biến mất.

Chúng ta sẽ trở lại với ví dụ nếm thức ăn. Khi miếng ăn đi vào miệng, tôi thường nghĩ “Mình thích mùi vị này!” Tuy nhiên “cái tôi” không nếm nó. Vị ngon ấy sẽ không có nếu như thiếu đi lưỡi, các dây thần kinh và não bộ. Các giác quan khác cũng đóng góp cho trải nghiệm vị giác. Một khi nếm món ăn ngon, tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc. Thứ hạnh phúc mà tôi cảm nhận không chỉ đến từ món ăn hay từ chính mình. Trải nghiệm đơn giản này trong việc nếm thử một món ăn ngon đã được hỗ trợ hoàn toàn bởi vô số và vô hạn những mối quan hệ. Một khi nhận biết được điều đó, ta sẽ cảm thấy tràn ngập cảm giác biết ơn.
Hãy cảm ơn con người, vũ trụ, mặt trời và trái đất!

Bằng trí huệ, chúng ta sẽ có thể bắt đầu sống một cuộc sống thấu hiểu với sự biết ơn. Việc lan toa thái độ này sẽ trở thành cơ sở cho xã hội loài người, qua đó chúng ta biết ơn những người khác và quan tâm đến họ.

Ở đây cũng vậy, chúng ta nhận thấy một lập luận nữa về sự không hiện hữu của “cái tôi” – có nghĩa nó chỉ được tồn tại dựa vào những điều kiện của sự tương thuộc. Đây chính là một luận điểm then chốt khác trong triết học Phật giáo, tất cả mọi điều đều thiếu một “bản ngã cố hữu”, vì tất cả đều là sự tương thuộc. Ý tưởng này sẽ dập tắt ý thức bản ngã ngoan cố. Việc nhận thức “cái tôi” chỉ tồn tại như là kết quả từ sự sắp đặt vô số các điều kiện và chẳng có gì khác hơn, những sự vật tách biệt thực ra chỉ là những tiếng vọng trong ý niệm về “cái tôi”, và những gì ý niệm này nhắm đến lại không thật sự hiện hữu.

Vì vậy chúng ta có thể nhận thấy, sự huỷ hoại ý thức bản ngã luôn luôn gắn liền với sự phát triển về cảm giác biết ơn những người khác. Một khi chiêm nghiệm mạng lưới của sự tương thuộc, chúng ta đồng thời sẽ có trách nhiệm hơn và hòa hợp hơn với những người khác, ít dính líu hơn vào các hoạt động lấy cái tôi làm trung tâm.

Tôi đã từng có một chuyến tham quan Nara do trường đại học tài trợ. Tất cả chúng tôi đã ở lại qua đêm tại một ngôi đền ở Nara. Đối với đa số sinh viên, đây là trải nghiệm đầu tiên ngủ tại ngôi đền, và mỗi sinh viên dường như đều nhận thấy chuyến đi thật sự đáng nhớ. Tuy nhiên họ cũng chia sẻ một trải nghiệm không vui vẻ: phải ngồi xổm để ăn sáng. Trong buổi ăn sáng, tất cả các sinh viên phải ngồi xổm cùng các tu sĩ mà không được nói một lời. Khi gần xong bữa ăn, chân của họ tê cứng và tôi nhận thấy một số sinh viên nôn nóng thay đổi tư thế ngồi, và họ đã cười ngượng ngùng khi thực hiện việc này. Tại Nhật Bản ngày nay, hầu như không còn ai ngồi xổm trong một khoảng thời gian dài nữa, vì vậy các sinh viên trẻ tuổi đã không được chuẩn bị để ngồi xổm trong nửa giờ.

Thông thường, một khi nhìn vào chân mình, chúng ta sẽ nghĩ “À, chân của tôi”. Những cái chân này thuộc về mình, vì thế ta nghĩ mình có thể tự do, tùy ý di chuyển chúng.

Tuy nhiên một khi đôi chân trở nên đau đớn do ngồi xổm quá lâu, chúng ta đột nhiên nhận thấy, đôi chân mà ta nghĩ thuộc về mình, như là một vật sở hữu của riêng mình, đã không hoạt động như ta mong muốn. Khi mỏi mệt, chúng ta có cảm giác đôi chân không phải là “của mình” mà là một thứ gì đó mà ta phải phụ thuộc. Việc mất khả năng làm chủ đôi chân của mình, cho dù là điều tạm thời, sẽ khiến ta hiểu rõ hơn, rằng chúng ta đang phụ thuộc vào đôi chân ấy. Chúng ta sẽ nhận thức, cần phải biết ơn sự hiện hữu của đôi chân và tất cả những bộ phận khác trên cơ thể mình.

Khi bắt đầu nghiên cứu Phật giáo, tôi đã kinh ngạc khi bắt gặp hai khái niệm trong những kiểu điều kiện ngẫu nhiên khác nhau: những điều kiện chi phối hữu hiệu, và những điều kiện chi phối không hữu hiệu. Những điều kiện chi phối hữu hiệu sẽ góp phần một cách tích cực vào sự xuất hiện của các sự việc, và tác động một cách mạnh mẽ khiến cho các sự việc này đi vào hiện hữu. Nó có thể là mặt trời liên hệ với cây cỏ đang mọc; hay là trong trường hợp của con người, chính là các bậc cha mẹ sinh thành chúng ta, bạn bè và gia đình đã mở rộng vòng tay giúp đỡ chúng ta trong những lúc khó khăn. Các điều kiện chi phối không hữu hiệu, còn được gọi “những điều kiện chi phối không có sự ảnh hưởng”, là những điều kiện khiến cho sự hiện hữu của một điều gì đó trở nên khả dĩ, mà không có sự đóng góp trực tiếp. Tất cả các điều kiện này chính là những thứ, cũng như mái nhà trên đầu chúng ta, vốn không trực tiếp đóng góp vào sự hiện hữu của ta mà đóng góp một cách gián tiếp bằng cách bảo vệ ta trước sức mạnh của thiên nhiên.

Ý tưởng ấy đã thật sự khai mở tâm trí tôi. Điều dĩ nhiên, tất cả chúng ta đều biết, nếu như không có thức ăn, nước uống và không khí, chúng ta sẽ khó sống. Nhưng khi mở rộng suy nghĩ của mình, rất nhiều thứ đóng góp một cách gián tiếp vào sự hiện hữu của ta, từ những người vô danh mà ta gặp trên đường, cho đến những vật thể giản dị xung quanh ta, một cảm giác biết ơn bắt đầu lớn dần. Tất cả các ý tưởng mà tôi bám víu cũng như “cái tôi” dần bị lụi tàn, trở thành một điều gì đó thật sự nhỏ bé và vô nghĩa. Cuộc sống của tôi như thể được tái sinh và tràn đầy tiềm năng vô tận.