THẾ GIỚI ĐƯỢC KINH NGHIỆM CHỈ LÀ THỨC

Trích: Duy Thức Thấy Thẳng Bản Tánh Của Tâm; NXB Tổng hợp Tp.HCM, 2025

08/02/2026
18 lượt xem

Thế giới như con người kinh nghiệm là thế giới của con người. Nói như thế nghĩa là chúng ta kinh nghiệm thế giới bằng những giác quan của con người, bằng ý thức của con người, bằng cảm thức về một cái tôi và cái của tôi và bằng tiềm thức chứa những trí nhớ, những kỷ niệm vui buồn, những hy vọng về tương lai của mỗi người.

Tất cả năm giác quan, ý thức, cảm thức về cái tôi, và tiềm thức chứa đựng tất cả các kinh nghiệm được Duy thức học gọi là tám thức. Con người kinh nghiệm thế giới và những người khác, những sinh vật khác, đất nước lửa gió, không gian thời gian bằng tám thức này cho nên gọi là “Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức”. Không có các thức sẽ không có gì cả; và có như thế nào, thế giới hiện hữu như thế nào, là do các thức.

Kinh Nhập Lăng già (Pháp sư Thật Xoa Nan Đà, Đại Chánh Tân tu Đại Tạng kinh):

“Đức Phật nói bài kệ:

Thân, tài sản, nhà cửa

Đều duy tâm ảnh hiện

Người phàm không thể biết

Khởi chấp có, chấp không.

Cảnh giới chỉ là tâm

Lìa tâm không thể đắc”.

Duy tâm tức là duy thức. “Duy tâm ảnh hiện” là do thức mà các bóng ảnh hiện ra, thân thể, tài sản, nhà cửa, gia đình, thế giới… Các bóng ảnh hiện ra khác biệt theo từng loài, và theo từng người. Kinh nghiệm của tôi về một người nào đó khác kinh nghiệm của anh về người đó, tùy theo mối tương quan tốt hay xấu, quyền lợi nhiều hay ít, cùng nghề hay khác nghề…

Con người kinh nghiệm thế giới và suy nghĩ về mọi sự, mọi người trong thế giới ấy theo hệ thần kinh các giác quan và não bộ của mình. Thế giới và người khác là sự diễn dịch của thần kinh giác quan và não bộ của mỗi người.

Các phân tử nguyên tử không có mùi hương được diễn dịch thành mùi hương. Các màu sắc là do các bước sóng ánh sáng chạm vào mắt và chuyển đổi thành tín hiệu thần kinh rồi não bộ giải mã tín hiệu thần kinh ấy thành màu sắc. Trong não bộ không có ánh sáng và màu sắc. Các sóng âm được diễn dịch thành âm thanh. Phân tử hóa học trong thức ăn tương tác với thần kinh mũi và lưỡi thành mùi vị… Sự diễn dịch, diễn giải này được Duy thức gọi là thức biến.

Ngày nay, khoa học vẫn chưa tìm thấy đâu là ranh giới giữa thế giới lượng tử vi mô và thế giới vĩ mô con người đang sống. Sự biến đổi từ thế giới lượng tử vi mô sang thế giới vật lý vĩ mô của con người là do hệ thần kinh và não bộ của con người, nghĩa là do hệ thống tám thức của con người. Thế nên, Duy thức nói, “Ba cõi duy chỉ là tâm, muôn hiện tượng duy chỉ là thức”.

Đó chỉ mới là thế giới ‘khách quan’ của các giác quan được chia sẻ chung của con người. Còn phần ý thức ‘chủ quan’ của mỗi người thì thế giới và người khác được diễn dịch thành khác biệt tùy theo ý thức và hoàn cảnh sống của mỗi người. Sự diễn dịch chủ quan này là cách mỗi người nhìn đời sống chung quanh. Mỗi người sống bằng và với những ý tưởng của mình. Thế nên trong thế giới chung ấy, còn phân chia ra nhiều thế giới khác, tùy theo hoàn cảnh, nghề nghiệp… của mỗi người; thế giới đàn ông, thế giới đàn bà, thế giới nông nghiệp, thế giới công nghiệp, thế giới kinh tế, thế giới chính trị, thế giới khoa học… Sự diễn dịch, diễn giải thế giới theo thần kinh giác quan và não bộ ý thức của mỗi người được Duy thức gọi là thức biến, hay là hoạt động tương tác lẫn nhau của tất cả tám thức.

2/ Tám thức

Trong các kinh điển thuộc hệ Duy thức như kinh Nhập Lăng già (Thật Xoa Nan Đà dịch tiếng Hán), kinh Giải thâm mật (Huyền Trang dịch), kinh Đại thừa Mật Nghiêm (Địa Bà Ha La dịch)… chỉ đề cập đến ba thức chính là Tâm (A lại da), Ý (Mạt na) và Ý thức. Riêng về các luận như Luận thành Duy thức (Thế Thân), Du già sư địa luận (Vô Trước)… có nói đến tám thức.

Ở đây sẽ lược qua tám thức để hiểu cuộc đời con người sống bằng thức và thấy thế giới qua thức là như thế nào. Khác với các luận, đi từ thức thứ tám ra đến các thức giác quan. Ở đây để cụ thể thực nghiệm hơn sẽ đi từ các thức giác quan đến thức thứ tám, nghĩa là từ thô đến tế.

Năm thức giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) có nhiệm vụ tiếp xúc với đối tượng, và theo hệ thần kinh các giác quan truyền bằng điện từ và hóa sinh các tín hiệu lên não để não diễn dịch một đối tượng như màu sắc, âm thanh, trạng thái (đặc, lỏng, hơi…). Như vậy, đối tượng được nhận biết tùy theo các giác quan, các đường thần kinh truyền dẫn và não bộ của mỗi loài. Hệ thần kinh
tiếp nhận, truyền đi và giải tín hiệu này được gọi là thức của mỗi giác quan. Đối tượng được kinh nghiệm của các giác quan đều do thức chuyển biến diễn dịch thành.

Một thí dụ thường thấy trong kinh điển, con người thấy sông Hằng là một dòng sông, quỷ đói thì thấy là một sông lửa, chư thiên thì thấy là cam lồ, cá thì thấy là không gian sinh sống, con người ở mãi trong đó thì chết.

Các giác quan để sống trong thế giới vật chất được chia sẻ bởi con người và các sinh vật khác mặc dầu có khác biệt trong cảm giác của mỗi loài.

Thức thứ sáu: Ý thức

Con người là một loài riêng hơn hẳn các loài sinh vật khác bởi có ý thức. Con người biến đổi trái đất này thành ngôi nhà và không gian sống của mình. Tất cả các môn học đều do ý thức phát minh ra, và sự tiến hóa của nhân loại là nhờ ý thức.

Ý thức có nhiệm vụ nhận thức, phân biệt, suy nghĩ, tư duy tổng hợp, phản biện, phân tích, tưởng tượng, dự phóng… Ý thức gồm cả hai chỉ số thông minh và trí tuệ cảm xúc, ý chí, quyết định, năng lực chọn cái tốt và bỏ cái xấu. Quan trọng hơn nữa là con người biết ý thức về chính mình, làm điều đó đúng hay sai, tốt hay xấu…, đạo đức làm người cũng bao gồm trong ý thức. Các xúc cảm cũng gồm trong ý thức. Các đức tính của con người cũng nhờ ý thức mà nhận biết và phát triển.

Nhưng một điều mà triết học và khoa học đã nhận thấy từ lâu là số phận, giới hạn của ý thức là không thể vượt qua được sự phân biệt, ngăn cách giữa chủ thể và đối tượng, giữa ta và người, giữa mình và cái khác (the other). Sự phân biệt càng lúc càng vật chất hóa, tôi và của tôi, anh và của anh, nó và của nó… cộng thêm với những phiền não tham sân, si, kiêu căng, đố kỵ… sanh ra từ những phân biệt ấy khiến thế giới bị chia cắt, phân mảnh, xung đột lẫn nhau, trở thành một thế giới cứng đặc, vật chất.

Ý thức là tác nhân chính yếu của con người. Ý thức chính là con người. Gây ra phân biệt chia cắt là nó, mà con đường hợp nhất tất cả cũng là nó. Phân biệt thành ngã – pháp là nó mà phá bỏ chấp ngã chấp pháp cũng là nó.

Thức thứ bảy: Ý (Mạt na)

Ý có đặc tính là suy nghĩ, so lường (“tư lương”). Chủ thể của việc suy nghĩ, so lường liên tục này là một cái tôi, cái ngã. Ý theo định nghĩa là thức chấp ngã, phân biệt rõ ràng và mạnh mẽ giữa cái tôi (ngã) và những đối tượng của cái tôi (ngã sở). Vì phân biệt chấp ngã liên tục như vậy, cho nên nó củng cố bốn phiền não: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái.

Nếu ý thức chỉ hoạt động khi có đối tượng, thì Mạt na không cần đối tượng vẫn liên tục có mặt, ngay cả trong giấc mộng. Ý thức thì dễ thấy hơn, như khi khởi lên một ý nghĩ, ta biết ý thức đang có mặt và hoạt động. Nhưng mạt na thì ngấm ngầm, ở trong tiềm thức, khiến ý thức rất khó biết đến, kể cả khi thiền định, chánh niệm tỉnh giác.

Mạt na là cầu nối giữa thức thứ tám A lại da với ý thức và năm thức giác quan. Nó chuyển những hạt giống (chủng tử) kinh nghiệm (tức là nghiệp) tốt và xấu nhập vào Tạng thức A lại da. Đây gọi là “hiện hành sanh chủng tử”. Nó cũng chuyển những hạt giống nghiệp tốt xấu từ Tạng thức ra đời sống vật chất giác quan. Điều này gọi là “chủng tử sanh hiện hành”.

Một điều quan trọng là ý thức và thức mạt na là người chọn lựa để đưa hạt giống tốt và xấu vào Tạng thức, với người không tu tập thì sự đưa vào này hầu như tự động, không kể tốt xấu. Với người có thực hành tâm linh, người ta có thể huấn luyện, nâng cấp ý thức và mạt na thức để chúng không còn thụ động, cam chịu, mà chúng biết chọn những hạt giống tốt và loại bỏ dần dần những hạt giống xấu.

Duy thức không phải là bị thức điều khiển, làm nô lệ cho các thức, mà là điều khiển, làm chủ các thức. Có như thế người ta mới đi từ bị trói buộc đến tự do. Đó cũng chính là ý nghĩa đời người.

Thức thứ tám: A lại da.

A lại da là thức nền tảng của tất cả, dịch tiếng Anh là All ground consciousness.
Thức này lưu trữ những ấn tượng, những kinh nghiệm, những xúc cảm, trí nhớ… dưới dạng những hạt giống (chủng tử). Nhờ thức này giữ gìn mà các hạt giống không hư hoại, rơi rớt mất.

Thức này còn có tên là thức Dị Thục, Dị là khác thời gian, Thục là chín. Những hạt giống nhân quả tốt xấu sẽ chín muồi theo thời gian và từ hạt giống sẽ sanh ra hiện hành, tức là hiện thực thường nghiệm, khi có đủ duyên.

Trong đời sống bình thường, người ta có thể cảm nhận có Tạng thức này. Một mùi hương, một âm thanh có thể làm nhớ lại một quang cảnh mấy chục năm về trước. Gặp lại một người đã quen mấy mươi năm ta nhận ra ngay: bây giờ công nghệ thông tin gọi là nhận diện.

Những năng khiếu trong đời này là biểu lộ của những công phu trong các đời trước. Chúng không tự nhiên có, không từ cha mẹ, không do hoàn cảnh hiện tại. Như Platon nói có phần rất đúng, “Hiểu biết là nhớ lại”.

Điều quan trọng là người ta có thể sửa chữa, làm nhẹ bớt, trung hòa những hạt giống xấu, bằng các phương pháp thiền định, quán tưởng, thực hành bốn niệm xứ, sám hối… Mặc dù A lại da là cùng cực vi tế, nhưng người ta có thể làm việc một cách gián tiếp với nó, và ở cấp độ cao, có thể chuyển thức thành trí. A lại da dù cùng cực vi tế, nhưng vẫn là một thức, và vì là một thức, cho nên những thức khác có thể ảnh hưởng đến nó.