KIẾN TẠO TƯƠNG LAI

TRÍCH: TẦM NHÌN CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA;   Người Dịch: Sư Cô Diệu Nga; Hiệu đính: Sư Cô Pháp Huệ; NXB THẾ GIỚI

25/02/2026
14 lượt xem

Truyền hình BBC (British Broadcasting Corporation) phát sóng bản tin thời sự thế giới của mình trên toàn cầu, với các tín hiệu sóng ngắn vươn tới cả vùng đồi núi hẻo lánh Dharamsala, thuộc dãy Himalaya và thị trấn McLeod Ganj nằm ôm theo sườn núi, nơi mà ngài Tenzin Gyatso – Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn đang sinh sống.

 

Ở Tây Tạng, ngay từ khi còn trẻ, ngài đã là một trong những thính giả trung thành nhất của đài BBC. Ngài đặc biệt tin tưởng vào tính chính xác của đài này như một nguồn đáng tin cậy, và luôn nghe đài vào lúc năm giờ ba mươi sáng mỗi khi ở nhà – đó cũng là khoảng thời gian ngài dùng điểm tâm.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma bảo tôi rằng: “Ngày nào tôi cũng nghe đài BBC và toàn những tin tức về giết chóc, tham nhũng, lạm dụng và những người điên thôi.”

 

Bản tin hàng ngày của đài BBC về những bất công và đau khổ của con người đã khiến ngài có cái nhìn sâu sắc rằng hầu hết những bi kịch trên thế giới đều là kết quả của một thiếu sót căn bản nhất: Đó là sự thiếu vắng trách nhiệm đạo đức gắn liền với lòng từ bi. Ngài bảo rằng đạo đức của chúng ta nên mách bảo chúng ta về nghĩa vụ đối với người khác, trái ngược với những gì chúng ta muốn cho chính mình.

 

Hãy dành một khoảnh khắc để suy ngẫm về những bản tin buổi sáng như một phong vũ biểu phản ánh sự thiếu hụt định hướng đạo đức của nhân loại. Dòng tin tức tuôn trào như một biển tiêu cực cuốn trôi tâm trí chúng ta: Trẻ em bị đánh bom trong chính nhà mình; chính quyền đàn áp những phe bất đồng quan điểm bằng bạo lực; một góc thiên nhiên bị tàn phá. Có những vụ hành quyết đẫm máu, xâm lược, địa ngục trần gian, lao động nô lệ, vô số người tị nạn, thậm chí những người lao động nghèo cũng không đủ ăn, không đủ chỗ ở cho bản thân. Hàng loạt những sai lầm của con người dường như là vô tận.

 

Có một cảm giác kỳ lạ như đã từng trải qua điều này. Tin tức hôm nay lặp lại những gì xảy ra năm ngoái, thập kỷ trước, thế kỷ trước. Những câu chuyện khốn khổ và bi kịch này chỉ là phiên bản mới của những câu chuyện cũ, những sai lầm tiếp theo trong tiến trình lịch sử.

 

Mặc dù chúng ta cũng có thể tự hào về những tiến bộ đạt được trong tiến trình lâu dài đó, nhưng cũng không khỏi băn khoăn bởi sự tồn tại dai dẳng của sự hủy diệt và bất công, tham những và tình trạng bất bình đẳng nghiệt ngã.

 

Đâu là nguồn lực có thể xây dựng thế giới mà chúng ta hằng mong muốn?

 

Đó chính là điều Đức Đạt Lai Lạt Ma kêu gọi chúng ta cùng kiến tạo. Với quan điểm độc đáo của mình, ngài có được một sự nhìn nhận rõ ràng về con đường mà gia đình nhân loại đang lạc lối, cũng như con đường hướng đến một câu chuyện tốt hơn – một câu chuyện không còn liên tục lặp lại những bi kịch của quá khứ, mà thay vào đó là phải đối mặt với những thách thức của thời đại chúng ta, bằng sức mạnh nội tại để thay đổi chính dòng chảy của lịch sử.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma hình dung ra một liều thuốc giải độc rất cần thiết. Đó chính là một nguồn năng lượng thiện lành.

 

Hơn bất cứ ai tôi từng biết, Đức Đạt Lai Lạt Ma chính là hiện thân và tiếng nói cho sức mạnh tốt đẹp đó. Chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên vào những năm 1980, và suốt nhiều thập kỷ qua, tôi đã chứng kiến ngài ấy hành động hàng chục lần, luôn thể hiện một khía cạnh nào đó của thông điệp này. Và vì cuốn sách này, ngài đã dành hàng giờ để diễn giải chi tiết nguồn năng lượng thiện lành mà ngài hình dung.

 

Nguồn năng lượng đó bắt đầu bằng cách hóa giải các năng lượng tiêu cực trong tâm trí con người. Để thay đổi tương lai từ những điều đáng tiếc trong quá khứ, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng chúng ta cần phải chuyển hóa tâm thức của chính mình – làm suy yếu sức lôi cuốn của những cảm xúc tiêu cực và từ đó làm lớn mạnh những phẩm chất tốt đẹp bên trong mỗi người.

 

Nếu không có sự chuyển hóa nội tâm đó, chúng ta sẽ dễ bị tác động bởi các phản ứng bộc phát như giận dữ, thất vọng và tuyệt vọng. Những phản ứng này chỉ dẫn chúng ta trở lại những con đường cũ kỹ đầy u ám.

 

Nhưng với sự thay đổi nội tâm tích cực này, chúng ta có thể thể hiện một cách tự nhiên hơn mối quan tâm đối với người khác – và hành động với lòng trắc ẩn, vốn là cốt lõi của trách nhiệm đạo đức. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, khi ấy, chúng ta mới có đầy đủ sự chuẩn bị để thực hiện sứ mệnh lớn lao với sự sáng suốt, bình thản và đầy yêu thương. Nhờ đó chúng ta có thể giải quyết các vấn đề nan giải, từ việc các nhà lãnh đạo tham nhũng, giới tinh hoa vô cảm, đến việc lòng tham và sự ích kỷ lại trở thành kim chỉ nam dắt dẫn con người, hay sự thờ ơ của những kẻ có quyền lực đối với người yếu thế.

 

Bằng cách bắt đầu cuộc cách mạng xã hội này trong tâm trí của chúng ta, tầm nhìn của Đức Đạt Lai Lạt Ma nhằm mục đích tránh những ngõ cụt mà những phong trào cải cách trong quá khứ từng vấp phải.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn thấy những tình huống tiến thoái lưỡng nan của con người qua lăng kính của sự phụ thuộc lẫn nhau. Martin Luther King Jr. đã nói: “Chúng ta bị mắc kẹt trong một mạng lưới tương liên không thể tránh khỏi, cùng mặc chung một chiếc áo duy nhất của định mệnh. Điều gì ảnh hưởng trực tiếp đến một người thì cũng gián tiếp ảnh hưởng đến mọi người.”

 

Vì tất cả chúng ta đều mắc phải những vấn đề chung, nên giải pháp cần thiết cũng nằm trong tầm tay của mỗi người, và mỗi chúng ta đều có khả năng là một phần của nguồn năng lượng thiện lành ấy. Ngài bảo rằng chúng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ ở bất kỳ mức độ nào chúng ta có thể, và bằng bất kỳ cách nào phù hợp với mình. Tất cả chúng ta cùng nhau có thể tạo ra một phong trào, một sức mạnh rõ nét hơn trong lịch sử, định hình tương lai để thoát khỏi xiềng xích của quá khứ.

 

Ngài nhận thấy rằng những hạt giống chúng ta gieo hôm nay, có thể thay đổi tiến trình tương lai chung của chúng ta. Một số hạt có thể mang đến hoa trái ngay lập tức; một số hạt khác chỉ có thể được các thế hệ tương lai thu hoạch. Nhưng những nỗ lực thống nhất của chúng ta, nếu dựa trên sự thay đổi bên trong này, có thể tạo ra sự khác biệt to lớn.

 

Hành trình cuộc đời đưa Đức Đạt Lai Lạt Ma đến với tầm nhìn này là cả một chặng đường phức tạp. Nhưng chúng ta có thể nắm bắt được chặng cuối cùng dẫn đến sự ra đời của cuốn sách này từ thời điểm ngài được cả thế giới liên tục chú ý đến.

 

GIẢI THƯỞNG VÌ HÒA BÌNH

Địa điểm là bãi biển Newport, California; ngày 5 tháng 10 năm 1989.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma bước vào cuộc họp báo cho giải Nobel Hòa bình vừa được công bố của mình, với một điệp khúc của tiếng bấm máy ảnh và ánh sáng nhấp nháy như pháo hoa từ đèn flash.

 

Ngài biết tin mình nhận được giải thưởng chỉ vài giờ trước đó và vẫn đang trong quá trình tiếp nhận mọi việc. Một phóng viên đã hỏi ngài sẽ làm gì với số tiền thưởng, vào thời điểm đó là khoảng một phần tư triệu đô la.

 

Ngạc nhiên khi thấy giải thưởng đi kèm với tiền, ngài trả lời: “Tuyệt vời. Có một trại phong ở Ấn Độ mà tôi đã muốn quyên góp từ lâu.” Ngài kể với tôi vào ngày hôm sau rằng, suy nghĩ đầu tiên của ngài là làm sao để trao tặng số tiền đó – có lẽ cho cả những người đang chịu đói khát.

 

Như ngài thường nhắc nhở mọi người rằng ngài không nghĩ mình là “Đức Đạt Lai Lạt Ma” cao quý mà chỉ đơn giản là một tu sĩ. Như vậy, ngài không có nhu cầu cá nhân về số tiền đi kèm với giải Nobel. Bất cứ khi nào Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận được một món quà bằng tiền, ngài đều sẽ tặng nó đi.

 

Chẳng hạn, tôi nhớ là ở một hội nghị với các nhà hoạt động xã hội ở San Francisco, vào cuối phiên họp, người ta đã công khai về tài chính (một hành động khá bất ngờ tại một sự kiện như vậy). Khoảng mười lăm ngàn đô la còn lại từ việc bán vé sau khi đã thanh toán chi phí, và ngay tại chỗ, Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố – trước sự ngạc nhiên của mọi người – rằng ngài đang quyên góp số tiền này cho một nhóm tham gia dành cho thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn ở Oakland, những người đã được truyền cảm hứng từ sự kiện để tự tổ chức các chương trình tương tự. Đó là chuyện nhiều năm trước, và tôi đã thấy ngài ấy lặp lại nghĩa cử cho đi hào phóng tức thì này nhiều lần kể từ khi đó (như ngài đã làm với phần tiền thu được từ cuốn sách này).

 

Vào lúc mười giờ đêm hôm trước – tức là đã khá muộn so với thời điểm đi ngủ lúc bảy giờ tối của Đức Đạt Lai Lạt Ma, có một cuộc gọi từ Na Uy báo rằng, đại sứ của họ đang trên đường đến để đích thân trao tuyên bố về việc ngài được trao giải Nobel Hòa bình năm 1989.

 

Sáng hôm sau, Đức Đạt Lai Lạt Ma đang thực hành pháp tu như thường lệ của mình, bắt đầu vào khoảng ba giờ sáng và kéo dài đến bảy giờ sáng hoặc lâu hơn (có một khoảng thời gian nghỉ để ăn sáng và nghe đài BBC). Không ai dám làm gián đoạn để thông báo cho ngài về giải thưởng, vì vậy thông báo chính thức đã được phát ra trước khi bất cứ ai có thể báo tin này cho ngài.

 

Trong khi đó, thư ký riêng của ngài đã phải từ chối số lượng yêu cầu phỏng vấn ồ ạt từ những hãng truyền thông hàng đầu thế giới – một sự tương phản với những năm trước, khi các phóng viên thường miễn cưỡng đưa tin về ngài. Đột nhiên, báo chí toàn cầu đổ dồn sự chú ý về phía ngài; dường như mọi đài truyền hình và tờ báo lớn trên thế giới đều gọi điện mời phỏng vấn.

 

Mặc dù điện thoại đổ chuông liên tục, sáng hôm đó Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn điềm tĩnh hướng dẫn thư ký của mình tiếp tục với sự kiện đã lên lịch trong ngày, đó là một cuộc họp với các chuyên gia thần kinh học. Bởi ngài sẽ không hủy bỏ cuộc họp này, nên các yêu cầu phỏng vấn đã bị từ chối hoặc hoàn lại. Cuối buổi chiều, một cuộc họp báo có thể được thêm vào lịch trình.

 

Vào giờ đó, gần một trăm phóng viên và nhiếp ảnh gia đã đến một phòng khiêu vũ của khách sạn địa phương để tham dự cuộc họp báo được tổ chức vội vàng. Khi họ tụ tập, các nhiếp ảnh gia đua nhau bằng mọi cách tìm vị trí tốt nhất, hệt như trong một trận đấu bóng bầu dục, để có những góc máy ảnh đẹp nhất phía trước khán phòng.

 

Nhiều phóng viên tại đó đã được huy động vội vã từ nhóm nhà báo gần Hollywood, nơi họ vốn quen với ngành công nghiệp điện ảnh và đã quá quen làm việc với một kiểu người nổi tiếng hoàn toàn khác. Tại đây, họ phải đối mặt với một người không mặn mà với danh tiếng và tiền, cũng không quá háo hức khi được xuất hiện trên truyền thông thế giới.

 

Trong thời đại selfie, khi rất nhiều người trong chúng ta cảm thấy có nghĩa vụ phải chia sẻ mọi hoạt động và bữa ăn của mình, thì những quan điểm như vậy của Đức Đạt Lai Lạt Ma thực sự là cấp tiến. Bạn không phải là trung tâm của vũ trụ. Chính bản thân ngài dường như bảo với chúng ta rằng, hãy thả lỏng những lo lắng của bạn, buông bỏ nỗi ám ảnh về bản thân và giảm bớt những tham vọng để có thể nghĩ cho người khác.

 

Chúng ta hãy xem xét phản ứng của ngài khi nghe tin mình đoạt giải Nobel. Tôi tình cờ có mặt trong cuộc họp báo của ngài, bởi tôi vừa hoàn thành việc chủ trì cuộc đối thoại kéo dài ba ngày giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và một số nhà trị liệu tâm lý và các nhà hoạt động xã hội về chủ đề “hành động từ bi”.

 

Một ngày sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma biết tin về giải thưởng, trong buổi phỏng vấn ngài cho tờ The New York Times, tôi lại hỏi ngài một lần nữa rằng ngài cảm thấy thế nào khi biết mình được trao giải. Với vốn tiếng Anh tự nhận là “hạn chế” của mình, ngài nói: “Tôi, bản thân tôi, không có nhiều cảm xúc.” Thay vào đó, ngài cảm thấy vui với hạnh phúc của những ai đã nỗ lực để ngài có được giải thưởng này – một phản ứng biểu thị điều mà truyền thống của ngài gọi là tùy hỷ (Mudita), tức hoan hỷ trước niềm vui của người khác.

 

Hãy xem xét tính cách vui tươi của ngài. Đức Tổng Giám mục Desmond Tutu, bạn thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma, dường như đặc biệt khiến cho khuôn mặt của ngài trở nên vui vẻ, nghịch ngợm. Khi hai người ở bên nhau, họ trò chuyện và đùa giỡn như những cậu bé.

 

Nhưng cho dù bất kể một sự kiện trang nghiêm nào thì Đức Đạt Lai Lạt Ma dường như luôn sẵn sàng cười. Tôi nhớ một khoảnh khắc trong một cuộc họp với các nhà khoa học, khi mà ngài kể một câu chuyện cười của chính mình (điều mà ngài hay làm). Ngài đã tham dự nhiều cuộc họp như vậy với các nhà khoa học trước đây, và ngài bảo tôi rằng, điều đó làm ngài nhớ đến một câu chuyện Tây Tạng xưa, về một người tuyết (Yeti) đang bắt những con sóc đất.

 

Người tuyết này đã ngồi rình ở miệng hang của một tổ sóc đất, và mỗi khi một con ló ra, người tuyết sẽ lao vào để tóm lấy nó và khống chế nó bằng cách đặt sóc đất phía dưới và ngồi đè lên nó. Nhưng mỗi khi người tuyết với lấy một sóc đất khác, anh ta sẽ phải đứng lên – và con sóc đất bị bắt trước đó sẽ bỏ chạy.

 

Ngài ấy cười và bảo rằng: điều đó giống như trí nhớ của ngài với tất cả các kiến thức về khoa học mà ngài đã học!

 

Sau đó, có thời gian ngài đang chờ đợi trong cánh gà tại một trường đại học, nơi ngài và một nhóm các nhà khoa học sắp có một cuộc tọa đàm. Mở đầu cho cuộc họp đó là một dàn hợp xướng không kèm nhạc cụ (a cappella) của học sinh trung học biểu diễn cho khán giả. Nhưng khi họ bắt đầu, Đức Đạt Lai Lạt Ma, bị cuốn hút bởi màn trình diễn, đã một mình bước ra sân khấu trống trải, tiến lại gần dàn hợp xướng khi họ hát, và lặng lẽ chăm chú lắng nghe.

 

Đó là một khoảnh khắc ngoài kịch bản; những người còn lại của ban tổ chức và các lãnh đạo trường đại học, những người chuẩn bị chính thức chào đón ngài, vẫn đứng ngơ ngác sau hậu trường. Còn Đức Đạt Lai Lạt Ma, với vẻ điềm nhiên tự tại, đứng đó mỉm cười với các ca sĩ, không để ý đến rằng cả khán phòng cũng đang rạng rỡ nhìn ngài.

 

Tại một cuộc họp chỉ dành cho khách mời, hai mươi bốn Giám đốc điều hành đã ngồi tại một bàn hội nghị dài, cùng với Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi ở đầu bàn. Khi họ nói chuyện, một nhiếp ảnh gia được thuê để ghi lại phiên họp, và rốt cuộc anh lại ngồi bệt xuống sàn ngay bên cạnh ghế của ngài Đạt Lai Lạt Ma, bấm máy với một ống kính truyền hình khổng lồ.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma dừng lại giữa câu, nhìn xuống nhiếp ảnh gia với vẻ thích thú, và đề nghị anh nằm xuống để chợp mắt một chút. Vào cuối phiên họp, nhiếp ảnh gia đó đã chụp một bức ảnh nhóm khá trang trọng của Đức Đạt Lai Lạt Ma với các nhà lãnh đạo kinh doanh.

 

Khi chụp ảnh nhóm xong, Đức Đạt Lai Lạt Ma ra hiệu cho nhiếp ảnh gia đến, ôm chặt anh ấy, và cùng anh này chụp một tấm ảnh thân mật.

 

Những khoảnh khắc nhỏ như vậy nếu xét riêng ra thì dường như không có gì đáng chú ý. Nhưng khi tập hợp lại, chúng là vô số dấu hiệu cho tôi thấy rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma sống theo một cách vận hành cảm xúc và xã hội rất riêng, chẳng hạn như: sự đồng cảm sâu sắc với những người xung quanh, khiếu hài hước, cách ứng xử tự nhiên, và ý thức cân bằng về sự hợp nhất của gia đình nhân loại, cũng như tâm quảng đại phi thường của ngài.

 

Việc ngài không tỏ ra mình thánh thiện hơn người và luôn sẵn sàng cười với chính những điểm yếu nhỏ nhặt của mình là một trong những phẩm chất khiến tôi yêu quý nhất. Ngài thêm hương vị cho lòng bi bằng niềm vui chứ không phải những lời nhàm chán tẻ nhạt, vô vị và sáo rỗng.

 

Những phẩm chất này chắc chắn được rèn luyện qua việc nghiên cứu và thực hành mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thấm nhuần từ khi còn nhỏ, và đến nay vẫn chuyên tâm dành năm giờ mỗi ngày để hành trì (bốn giờ vào buổi sáng và một giờ khác vào ban đêm). Những thực hành hàng ngày này góp phần hình thành nên ý thức đạo đức và phong thái trước công chúng của ngài.

 

Tính kỷ luật tự giác của ngài trong việc trau dồi những phẩm chất như tinh thần tìm tòi, sự bình thản và lòng từ bi là nền tảng tạo nên một hệ giá trị rất riêng, giúp Đức Đạt Lai Lạt Ma có được quan điểm hoàn toàn khác biệt về thế giới, từ đó hình thành nên tầm nhìn của ngài.

 

Chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên vào đầu những năm 1980, khi ngài đến thăm Đại học Amherst và người bạn cũ của ngài là Robert Thurman, khi ấy là giáo sư ở đó, đã giới thiệu chúng tôi với nhau. Tôi nhớ là tại cuộc họp đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma cho mọi người biết rằng ngài đã tìm kiếm các cuộc thảo luận nghiêm túc với các nhà khoa học. Điều này phù hợp với tôi, vì tôi vừa là nhà tâm lý học vừa là một nhà báo chuyên về mảng khoa học của The New York Times.

 

Trong những năm sau đó, tôi đã sắp xếp hoặc tham gia một số cuộc họp cho ngài với các nhà khoa học trong lĩnh vực của tôi, và trong nhiều năm, đã gửi cho ngài những bài báo về những khám phá khoa học từ The New York Times. Vợ chồng tôi đã tạo thói quen tham dự các buổi nói chuyện và thuyết pháp của ngài bất cứ khi nào chúng tôi có thể. Vì vậy khi tôi được yêu cầu viết cuốn sách này, tôi đã lập tức hoan hỷ nhận lời.

 

Tuy hầu hết các cuốn sách của tôi khám phá các xu hướng khoa học mới và bàn luận về mọi sự kiện, và dù cho Đức Đạt Lai Lạt Ma căn cứ tầm nhìn của mình thiên về khoa học hơn là tôn giáo, thì cuốn sách này cũng không phải là một cuốn sách về khoa học thuần túy. Tôi liên hệ bằng chứng khoa học vì điều này hỗ trợ tầm nhìn hoặc để minh họa một điểm nào đó, chứ không phải là sách giáo khoa cơ bản. Những độc giả muốn tìm hiểu nhiều hơn có thể tham khảo các nguồn tôi trích dẫn (độc giả nên chú ý rằng, phần chú thích cuối sách không được đánh số trong phần nội dung, nhưng vẫn đầy đủ ở phụ lục).

 

Tôi tin chắc rằng tầm nhìn được hình thành qua cuộc phỏng vấn giữa tôi và Đức Đạt Lai Lạt Ma ít nhiều vẫn mang dấu ấn và mối quan tâm của riêng tôi, cũng như cách tôi thuật lại nó. Mặc dù vậy, tôi cố gắng trung thành với những tuệ giác cơ bản của ngài và lời kêu gọi mà ngài gửi gắm cho mỗi chúng ta.