BỒ TÁT HẠNH NỐI KẾT XÃ HỘI VỚI TÂM LINH

Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

28/02/2026
17 lượt xem
Chùa Long Sơn, Thành Phố Nha Trang, Ảnh: iStock

Mỗi người chúng ta đều có hai con người: con người xã hội và con người tâm linh. Con người tâm linh này Abraham Maslow gọi là Nhu cầu Siêu việt (Transcendence Needs), nhu cầu cuối cùng trong 8 bậc thang nhu cầu của ông. Paul Tillich thì gọi là “mối quan tâm tối hậu”, và những vị khác dùng nhiều từ khác nữa. Ở đây, chúng ta gọi là tâm linh: tầng tâm linh, con người tâm linh.

Khi một con người đã thành công ở mức cao nhất những nhu cầu vật chất và tinh thần, người ấy vẫn thấy ‘thiếu thiếu’, ‘nhớ nhớ’ một cái gì mông lung. Sự thiếu và nhớ này chứng tỏ sự hiện diện của nhu cầu tâm linh chưa được đáp ứng.

Vấn đề là để đáp ứng cho nhu cầu tâm linh người ta phải từ bỏ đời sống xã hội, hay để sống đời sống xã hội, người ta phải từ bỏ nhu cầu tâm linh? Một điều cần lưu ý ở đây là có những người lầm tưởng rằng ở chùa là thoát khỏi đời sống xã hội. Chùa vẫn là một xã hội nhỏ, và công việc không thua gì một công việc đời, có khi còn nhiều việc hơn vì phải lo cho đời sống tinh thần, tâm linh của những thành viên trong chùa và ngoài chùa.

Chúng ta thấy ngày xưa trong các chùa thiền tông, họ vẫn làm nông nghiệp để tự nuôi sống, “Một ngày không làm, một ngày không ăn” (Thiền sư Bá Trượng).

1/ Nghề nghiệp xã hội có thể nào có một ý nghĩa tâm linh?

Kinh Pháp Hoa, chương Pháp sư công đức nói:

“Nếu giảng nói sách thế gian, ngôn ngữ quản trị việc đời, nghề nghiệp sinh sống, đều thuận với chánh pháp. Dù chưa đắc trí huệ vô lậu mà ý căn thanh tịnh như thế, thì người ấy có tư duy, tính toán, nói năng đều là Phật pháp, không gì chẳng chân thật”.

(Kinh Pháp Hoa, chương Pháp sư công đức).

Tóm lại, tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, diễn thuyết, nói năng, suy nghĩ làm ăn, nghề nghiệp sinh sống ở đời, nếu nhìn với tâm ý thanh tịnh, thì đều là Phật pháp, đều biểu lộ ý nghĩa tối hậu.

Như thế những việc đời mỗi người đang sống, đang làm là sự biểu lộ của Phật pháp, mà kinh Pháp Hoa nói là “thật tướng của tất cả các hiện tượng” (chư pháp thật tướng).

Theo Maslow, có 8 tầng trong Tháp Nhu cầu, từ thấp đến cao, cái này lần lượt đến cái kia. Nhưng với quan niệm này của kinh Pháp Hoa chúng ta có thể tìm thấy tầng tâm linh, tầng siêu việt, ở ngay nơi những tầng thấp nhất khi tìm cách thỏa mãn những nhu cầu căn bản là Nhu cầu Thân thể (Physiological Needs) và Nhu cầu An toàn (Safety Needs, sức khỏe, chỗ ở, việc làm, an ninh tài chính…). Trong khi với Tháp nhu cầu Maslow, người ta phải đi từ dưới lên những tầng trên, và có người chưa chắc đã đạt được những tầng cao như tầng 4 Nhu cầu được Quý trọng (Esteem Needs), tầng 5 Nhu cầu Thể hiện Bản thân (Self-Actualization Needs) thì rất khó mà đạt đến tầng thứ 8 cao nhất, tầng siêu việt, tâm linh. Nhưng với đạo Phật, dù người ta ở tầng dưới thấp, nói thẳng ra là ở giai cấp thấp, người ta vẫn có thể đạt đến tầng tâm linh, vì tầng tâm linh bình đẳng và có mặt ở khắp mọi tầng.

Câu kinh trên là lời đề nghị cho bất cứ ai, dù ở giai cấp nào của xã hội, dù sinh sống trong hoàn cảnh nào, đều có cơ hội đạt đến tầng tâm linh, hoàn thành sứ mệnh làm người, chỉ với điều kiện là “một tâm ý trong sạch”, để thấy ra chân tướng của cuộc đời mình đang sống.

2/ Nối kết xã hội với tâm linh

Người ở đời giúp đỡ cho những người khác về vật chất và tinh thần được gọi là Bồ tát. Người ấy không những giúp ích cho những người khác, mà còn cho các hình thức sự sống khác, sinh vật, thiên nhiên. Khi giúp ích, hỗ trợ cho người khác, cho sự sống của các loài, của trái đất, người ấy cũng tự giúp mình bằng sự sáng suốt của tâm trí, bằng tình yêu thương, bằng kiên nhẫn, bằng tha thứ… bằng tất cả những đức tính mà con người có thể có được.

“Lợi mình – lợi người”, “tự hoàn thiện mình – hoàn thiện cho người” là con đường tiến hóa của một Bồ tát. Cả hai vế quan hệ hữu cơ với nhau, cái này tốt hơn thì cái kia tốt hơn; cái kia xấu đi thì cái này xấu đi. Tôi làm điều tốt đẹp cho anh thì tôi sẽ tốt đẹp hơn. Tôi làm điều xấu cho anh thì tôi sẽ xấu đi.

Con đường của một Bồ tát được gọi là Bồ tát hạnh, những hành động, những hoạt động lợi người – lợi mình của Bồ tát.

Xã hội là sự nhóm họp, tụ hội những con người cùng sống với nhau. Những người ấy không riêng biệt, độc lập (indépendent), mà là liên lập, phụ thuộc vào nhau, nương dựa nhau (interdépendent). Bồ tát hạnh hoạt động trong một xã hội liên lập, một người bị tác động thì toàn thể bị tác động, dầu rất nhỏ, khó thấy. Bồ tát hạnh tác động lên một người là tác động lên toàn xã hội và tác động lên toàn xã hội là tác động lên từng người. Hơn nữa, còn ảnh hưởng đến môi trường sống của con người, thiên nhiên, trái đất.

Điều này càng thể hiện rõ khi Bồ tát phần nào chứng ngộ tánh Không, bản tánh vô ngại của mọi hiện tượng. Thật tướng của xã hội, nền tảng sâu xa nhất của xã hội là tánh Không, nên mọi sự, mọi người, trong bản chất, đều vô ngại với nhau.

Bồ tát hạnh làm việc nơi thế giới hiện tượng, mà bản tánh của thế giới hiện tượng là tánh Không. Thế nên càng đi vào xã hội, Bồ tát càng đi sâu vào tánh Không.

Bồ tát hạnh là hoạt động giúp đỡ, khai mở tâm thức cho người khác, nối kết người khác với bản tánh của tâm thức họ. Đây là hoạt động nối kết đời (thế giới con người) với đạo (thế giới tâm linh). Thiếu tầng tâm linh, con người sẽ rơi vào khủng hoảng, mặc dù rất thành công ở tầng vật chất – thân thể và tầng tâm – ý thức vì hai tầng này đều có giới hạn của chúng.

3/ Bồ tát hạnh và bồ đề tâm

Bồ đề tâm là tâm giác ngộ (bồ đề), tâm hướng đến giác ngộ để giúp đỡ và chỉ bày con đường tâm linh (giác ngộ) cho con người, và nói rộng ra, cho tất cả chúng sanh.

Bồ đề tâm có nguyện và hạnh. Nguyện là mong muốn đạt đến giác ngộ để giúp đỡ và chỉ dạy cho chúng sanh. Hạnh là hành động, thực hiện hóa mong nguyện ấy.

Bồ tát không đợi đến lúc thành Phật, hoàn toàn giác ngộ mới giúp đỡ và giao hóa chúng sanh. Bồ tát hạnh là thực hành được bước nào, làm ích lợi cho chúng sanh bước đó. Ví dụ bố thí, không đợi có nhiều tài sản (tài thí), chứng ngộ được nhiều Phật pháp (pháp thí) rồi mới chia sẻ, tặng cho. Có ít thì chia sẻ ít, có nhiều chia sẻ nhiều.

Có Bốn nhiếp pháp để gần gũi, chia sẻ với chúng sanh. Bố thí có thời gian, khả năng, sức lực bao nhiêu thì chia sẻ bấy nhiêu. Ái ngữ là nói lời đúng đắn, tốt đẹp với họ. Lợi hành là làm việc lợi ích về vật chất và tinh thần cho họ. Cuối cùng, đồng sự, là cùng làm việc với họ.

Chỉ Bốn nhiếp pháp này, Bồ tát đã gần gũi, đi sát với chúng sanh. Như kinh nói, “là người bạn không đợi mời mà đến”. Và Bồ tát hạnh còn rất nhiều việc làm khác, vì Bồ tát hạnh bao trùm và hoạt động nơi toàn bộ thân, khẩu, ý của một Bồ tát. Như thế toàn bộ đời sống ở thế gian, trong mọi lãnh vực đều là môi trường hoạt động của Bồ tát hạnh.

Dĩ nhiên, mỗi lãnh vực của xã hội có quy luật riêng của nó để vận hành, hoạt động, Bồ tát hạnh không phá bỏ những quy luật vật chất ấy được. Như nhà bán hàng, không thể vì ‘thương’ khách hàng mà hạ giá sản phẩm một cách tùy tiện, bán phá giá. Nhưng Bồ tát hạnh là yếu tố tâm linh để cho xã hội nhẹ nhàng hơn, bớt cạnh tranh khốc liệt hơn, và có trật tự hơn. Trật tư ấy là sự hài hòa của ba tầng vật chất – thân thể, tầng tâm – ý thức, và tầng tâm linh, ở cá nhân và xã hội.

Đi sâu hơn, các tông phái cao cấp nói rằng Bồ đề tâm có phát, có khởi đầu trong thời gian và không gian là Bồ đề tâm tương đối, có giới hạn. Còn Bồ đề tâm tuyệt đối là không còn giới hạn, vượt ngoài thời gian không gian.

Bồ đề tâm tương đối là thế giới hiện tượng, Bồ đề tâm tuyệt đối là bản thể, bản tánh của thế giới hiện tượng. Bồ đề tâm tương đối là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… ; Bồ đề tâm tuyệt đối là tánh Không.

Như thế Bồ đề tâm tương đối luôn luôn nằm trên và trong Bồ đề tâm tuyệt đối là tánh Không. Thế nên khi làm một Bồ tát hạnh, thực hiện Bồ đề tâm tương đối, Bồ tát biết rằng việc làm này luôn luôn nằm trên và trong tánh Không. Biết như vậy, hoạt động của Bồ tát làm cho con người và xã hội cũng là sự thâm nhập của riêng mình vào tánh Không.

Bồ tát hạnh không những giúp đỡ, giáo hóa chúng sanh mà còn khiến cho Bồ tát thể nghiệm, chứng ngộ tánh Không.

Lợi mình – lợi người là như vậy. Bồ tát hạnh là giúp đỡ chỉ dạy cho người, đây là đại bi; đồng thời thâm nhập tánh Không, đây là trí huệ giải thoát. Như thế cuộc đời xã hội là môi trường của Bồ tát hạnh, môi trường để thực hành trí huệ và đại bi, lợi cho người và lợi cho mình đồng thời với nhau.