HỌC VẤN LÀ NGHĨA VỤ CỦA NAM NỮ TÍN ĐỒ HỒI GIÁO

Thông thường, trong mắt người thế tục, không gì cao quý hơn vương miện và ngai vàng. Nhưng trong lịch sử Ả Rập lại có một nhân vật chịu từ bỏ vương vị để theo đuổi học vấn, ông chính là Khalid, con trai của Khalip đệ nhất của vương triều Umayyad.
Khalid từ nhỏ đã thích theo đuổi học vấn, lớn lên không muốn kế thừa vương vị của Khalip, mà quyết chí nghiên cứu hóa học và y học, viết sách, không màng đến chính trị, vùi đầu học hành suốt gần 30 năm. Sự say mê học vấn của Khalid thật đáng khâm phục. Trong lịch sử cận đại, từ bỏ vương vị để theo con đường khác còn có Edward VIII (quận công Windsor) của Hoàng gia Anh, ông không thích giang san mà thích mỹ nhân, ông dứt khoát thoái vị để được kết tóc với người phụ nữ mà mình yêu. Hành động của ông tuy cũng gây kinh ngạc, gây chấn động một thời, nhưng vẫn có chỗ thua kém so với hành vi của Khalid. Điều đáng ngạc nhiên là trong vương triều Umayyad, Khalid chỉ là một điển hình. Giới trí thức Ả Rập khi đó, bao gồm một số người thuộc tầng lớp thượng lưu, rất đam mê hiến thân cho việc nghiên cứu học thuật. Bởi vì sau khi Hồi giáo hình thành, trong lòng người Ả Rập đã xây dựng một niềm tin: “Cầu học vấn là thiên chức của nam nữ tín đồ Hồi giáo”.
Coi việc cầu học vấn là thiên chức đầu tiên xuất phát từ Muhammad – đấng tiên tri của thế giới Hồi giáo. Khi Hồi giáo mới hình thành, Muhammad đã nói: “Ta được đấng Allah sai phái, lãnh sứ mệnh tuyên truyền chính đạo, đề xướng học vấn”. Sau đó, ông còn nhiều lần quy định bằng những lời nói rõ ràng: “Cầu tri thức là thiên chức suốt đời của đàn ông và đàn bà tín đồ Hồi giáo”, “Cầu tri thức, từ khi trong nôi cho tới khi xuống mồ”. Còn nói: “Triết lý là con lạc đà sổng mất của dân Hồi giáo, phải tìm lại, dù phải đến Trung Quốc”. Qua đó khích lệ nhân dân Ả Rập học tập văn hóa Hy Lạp cổ đại, Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc. Trong kinh điển Hồi giáo, có rất nhiều thánh huấn khích lệ cầu học. Thí dụ “cầu học lành hơn làm lễ”, “kẻ chết vì cầu học” chẳng khác đức hy sinh của kẻ tử vì đạo, “kẻ bo bo giữ của thì chết, người có học thì sống”. Những thánh huấn này đều lấy quan niệm “cầu học vấn là thiên chức của tín đồ Hồi giáo” làm cơ sở. Trong mọi tôn giáo trên thế giới, hầu như chỉ có Hồi giáo là đưa việc học tập lên đến tầm cao như vậy.
Quan niệm “thiên chức” đã thúc đẩy cuộc sống thường ngày của con người trở nên lý trí hóa, văn minh hóa. Bởi lẽ nó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến phương thức sinh hoạt thường ngày của con người, nhất là cách thức sử dụng thời gian nhàn rỗi, sẽ dần dẫn mọi thứ đến quỹ đạo sống văn minh. Nó khiến cho mọi sự vật liên quan đến việc cầu tri thức, cầu học vấn cho dù mâu thuẫn với truyền thống cũng đều có ý nghĩa khẳng định. Nó còn thúc đẩy tạo thành một trào lưu xã hội mới, tức người có học vấn trở thành đối tượng được mọi người ngưỡng mộ, được coi là tinh hoa của dân tộc, tấm gương của xã hội. Bởi vì quan niệm “thiên chức” này đã khiến việc học được thần thánh hóa, học vấn đã gắn liền với sự hoàn thiện đạo đức và thành kính tôn giáo. Khi xã hội xuất hiện luồng dư luận như vậy, “chính đạo” cũng theo đó xuất hiện. Do đó, dù trực tiếp hay gián tiếp, quan niệm “thiên chức” mà Muhammad đề xướng đã đặt nền tảng tâm lý xã hội cho người Ả Rập thoát khỏi truyền thống của thời đại du mục, mở ra cuộc sống mới. Giống như quan niệm “thiên chức” cung cấp sự bảo hộ tinh thần cho sự phát triển lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản, quan niệm “thiên chức” của Muhammad cũng tạo nên “động lực thứ nhất” về tinh thần cho sự phát triển lớn mạnh của văn hóa Ả Rập – Hồi giáo.
Dưới sự chỉ dẫn của thiên chức thứ nhất, người Ả Rập không tiếc công sức trong việc khích lệ cầu học và dạy học. Khi Hồi giáo mới hình thành, sau khi Muhammad di cư đến Medina xây dựng chính quyền, ông đã lập tức phái người đến Syria học ngoại ngữ và các môn học vấn. Khi đó để bảo vệ Medina, người Ả Rập và người Do Thái đã nảy sinh chiến tranh. Sau khi người Do Thái thua trận, Muhammad lập tức bắt tù binh Do Thái giáo dạy cho người Ả Rập biết đọc, biết viết để trả giá cho việc chuộc thân. Những biện pháp này đều phản ánh khát vọng cầu tri thức và quyết tâm học tập của người Ả Rập thời bấy giờ.
Người Ả Rập vừa có quyết tâm, vừa có trí tuệ trong việc theo đuổi học vấn. Thảm bay là bảo bối thường xuyên xuất hiện trong các câu chuyện dân gian Ả Rập. Ai có được thảm bay, người đó sẽ có thể ngồi trên nó và bay đến bất kỳ nơi nào anh ta muốn với tốc độ nhanh nhất. Nếu so sánh câu chuyện về thảm bay của người Ả Rập với truyện ngụ ngôn “Rùa và Thỏ” mà mọi người quen thuộc, có thể nhận thấy truyện ngụ ngôn “Rùa và Thỏ”, khẳng định việc chăm chỉ cần cù sẽ có thể bù thông minh, lạc hậu vượt qua tiên tiến; còn trong sự kỳ vọng và sùng bái thảm thần của người Ả Rập, ý nghĩa lắng đọng là việc vận dụng trí tuệ, dùng phương thức tiên tiến để vượt qua thường quy. Trước nền văn minh tinh thần rực rỡ mà các dân tộc khai hóa đã tạo ra, người Ả Rập đã vận dụng trí tuệ của các dân tộc khác để dệt nên cho mình một tấm thảm bay bay đến thế giới văn minh.
1- Quyết tâm mở mang trí tuệ – ra sức phát triển ngành thư viện
Tư liệu sách vở là kết tinh của trí tuệ. Sở hữu tư liệu sách vở là một trong những điều kiện cơ bản của việc cầu học vấn, cũng là nguyên liệu cơ bản để dệt nên thảm bay. Chỉ có dùng trí tuệ của người khác để dệt nên thảm bay cho mình mới có thể bay đến bất kỳ mục tiêu, bất kỳ ngóc ngách nào trên thế giới văn minh. Do đó, trong vài thế kỷ đầu khi đời sống mới bắt đầu, người Ả Rập đã biểu hiện hứng thú khác thường đối với sách vở, coi sách vở là báu vật.
Trước tiên, họ không tiếc công sức trong việc sưu tầm sách vở. Quan niệm “cầu tri thức là nghĩa vụ” và “cầu tri thức là thánh chiến” đã khiến sách vở ở khu vực bị chinh phục giống như của cải, trở thành đối tượng trưng thu của họ. Thắng lợi quân sự đi đến đâu là việc thu thập sách vở xuất hiện ở đó. Khi ấy, rất nhiều sách về lịch sử, thuật luyện vàng và y học tiếng Hy Lạp, Ba Tư và Syria cổ đều được người đương quyền và tầng lớp trên của đế quốc thu thập từ các khu vực bị chinh phục. Khalip Al-Rashid đã thu được rất nhiều sách từ cuộc chiến tranh với Byzantine.
Mấy đời Khalip của vương triều Abbas, từ Al-Mansur, Al-Rashid đến Al-Ma’mun đều đã phái người đến các nơi dùng vàng để đổi lấy những cuốn sách quý thất tán khắp nơi. Họ khích lệ các học giả vân du bốn phương, sưu tầm sách cổ. Ngoài ra, sưu tầm sách quý qua kênh ngoại giao cũng là một biện pháp thời bấy giờ. Một số điển tịch Hy Lạp nổi tiếng mà Khalip Al-Mansur có được là hoàng đế Byzantine tặng theo thỉnh cầu của ông. Al-Ma’mun cũng từng phái đoàn đại biểu đến Constantinople xin hoàng đế Leo các trước tác tiếng Hy Lạp. Thứ đến, người Ả Rập rất dụng công trong việc lưu trữ sách. Họ rất coi trọng việc đóng sách, bìa sách cộng với thư pháp Ả Rập, màu sắc tươi tắn, hình ảnh khắc nổi làm cho sách có vẻ đẹp lạ thường.
Quan niệm “cầu tri thức là thánh chiến” khiến sách được chụp lên vòng hào quang thiêng liêng. Để sách tiện mang theo và cất trữ, Al-Rashid còn hạ lệnh, mọi người chỉ được dùng “giấy Samarkand”, tức giấy được làm theo kỹ thuật của Trung Quốc để viết; vì tính năng của giấy cỏ của người Ả Rập tương đối kém.
Khi đó, thư viện của họ rất phổ biến và được quản lý hoàn hảo. Thư viện Baghdad bắt đầu được xây dựng từ giữa thế kỷ 7 khi đế quốc Ả Rập mới hình thành, sau được Harun al-Rashid mở rộng. Năm 830, Al-Ma’mun cho xây dựng Cung trí tuệ nổi tiếng ở Baghdad; Cung trí tuệ là một trung tâm của tàng thư và văn hóa. Thư viện có thư viện trưởng và trợ lý, còn có thư ký và người chuyên đóng sách, thậm chí còn có người hầu gái và thị tùng chăm lo việc ăn ở của các học giả. Ngoài Baghdad, các nơi khác như Damascus, Cairo, Basra, Andalus và Morocco đều có rất nhiều thư viện. Thư viện hoàng gia trở thành thư viện có quy mô lớn nhất, trật tự tốt nhất châu Âu thời bấy giờ.
Họ chú ý đến việc sử dụng sách. Nhiều thư viện có thể tạo sự tiện lợi cho độc giả trong việc đọc, sao chép hoặc phiên dịch: mục lục tàng thư phần lớn được lập và sắp xếp theo loại để tiện cho việc mượn đọc. Khi đó, thư viện do vị Khalip của vương triều Buyid xây dựng tại Shiraz để sách trên giá sách, có phân loại mục lục để tiện tìm kiếm. Có thư viện còn cung cấp giấy miễn phí cho những người nghiên cứu chép tư liệu ở thư viện đó, thậm chí còn cấp sinh hoạt phí cho các học giả làm công tác nghiên cứu trong thư viện đó v.v… Hiển nhiên, học giả là thợ dệt “thảm bay”, không thể bạc đãi.
Khi đó, một số học giả, văn nhân giàu có bắt chước cách làm của Khalip và vương công đại thần, còn thiết lập thư viện tư nhân, có thư viện lưu trữ hàng nghìn cuốn sách. Đến thời đại Abbasm, hoạt động viết sách, dịch sách rất thịnh hành, cùng với sự phát triển của công nghiệp làm giấy, đã xuất hiện trào lưu chép sách, có thương nhân buôn sách và tiệm sách. Như thế, các loại thư viện ngày càng nhiều.
2- Toàn lực khơi dậy trí tuệ sống – sự trỗi dậy của du lịch học thuật và hội thảo học thuật
Với người Ả Rập, du lịch học thuật là một bộ phận quan trọng của việc cầu tri thức. Họ thường không tiếc công sức đi khắp nơi để có được một đoạn thánh huấn, làm rõ một đoạn kinh văn, thậm chí để thu thập một câu cách ngôn. Một học giả nói: Nếu tôi gặp một đoạn “Kinh Coran” khó hiểu mà có người giải thích được, thì dù người đó ở xa đến mấy tôi cũng lập tức đi gặp người đó. Khi ấy, các nhà ngôn ngữ học đến nơi người du mục cư trú trong sa mạc để sưu tầm tư liệu ngôn ngữ và văn học, các nhà thánh huấn học thì đi khắp nơi sưu tầm thánh huấn, các nhà văn cũng in dấu chân khắp các quốc gia Hồi giáo để học hỏi nghề văn của các nhà văn dân gian, những người học triết học thì đến Constantinople và các nơi khác tìm kiếm thư tịch Hy Lạp để phiên dịch. Tình hình các môn học khác cũng như vậy.
Có người từng hỏi nhà văn Wasil: Hứng thú văn chương của ông như thế nào? Wasil đáp: Chỉ cần nghe được một chữ tôi chưa từng nghe qua, toàn thân tôi như mọc thêm tai, sướng không thể tả. Người khác hỏi: Ông cầu được tri thức bằng cách nào? Ông đáp: Như người mẹ lạc mất con tìm lại được đứa con duy nhất của mình. Lại có người hỏi: Ông trân trọng nó như thế nào? Câu trả lời của ông còn tuyệt vời hơn: Như người nghèo quý trọng đồng tiền của mình.
Thời bấy giờ, các nhà thánh huấn học là những người đi nhiều nhất, chịu nhiều vất vả khổ cực nhất. Đó là bởi trong thời kỳ truyền bá Hồi giáo, đệ tử Thánh môn phân tán đi khắp nơi, có người định cư ở Ba Tư, có người định cư ở Iraq, có người định cư ở Ai Cập và Syria, có người đến tận Maghreb. Họ đều lưu giữ một số thánh huấn và truyền cho đệ tử trực truyền và đệ tử tam truyền của họ. Mỗi địa phương đều có một số thánh huấn mà những nơi khác không biết. Thế nên các nhà thánh huấn phải đi khắp nơi, nhiệt tình tôn giáo của họ đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn vất vả. Các học giả đương thời du lịch khắp nơi trên đế quốc Hồi giáo giống như những quân cờ di chuyển trên bàn cờ. Nghèo khó không ngăn cản được họ, gian khổ không làm họ sờn lòng, cái nóng của sa mạc, sóng dữ trên biển khơi họ đều coi như đường phẳng. Bởi vì trong lòng họ đã son sắt niềm tin “cầu tri thức tức là thánh chiến”, đến mức đối với rất nhiều người, học vấn chính là mục đích của cuộc sống chứ không phải là phương tiện. Bất kể kết quả là giàu hay nghèo cũng phải theo đuổi; bất kể là sinh hay tử cũng phải thỏa mãn thú vui cầu tri thức.
Tương ứng với việc du lịch học thuật là sự trỗi dậy của thảo luận học thuật. Thư viện, cung đình và nhà thờ Hồi giáo thường trở thành nơi thảo luận học thuật, cũng là cơ quan học thuật quan trọng thời bấy giờ. Các học giả thảo luận các vấn đề về giáo pháp, từ pháp, ngữ pháp, ngôn ngữ học và tôn giáo v.v… ngay trước mặt Khalip. Sự thảo luận học thuật này thể hiện một cảnh tượng phồn vinh trăm hoa đua nở trong thời đại Abbas. Điều này một mặt do các vấn đề học thuật thời đó còn chưa thống nhất, không thành hệ thống, nên xét từ góc độ học thuật thuần túy, cần phải triển khai tranh luận; mặt khác cũng là xuất phát từ nguyện vọng theo đuổi chân lý của các học giả, đồng thời hy vọng được Khalip và các vương công đại thần ban thưởng và ân sủng.
Để khuyến khích sự phát triển của học thuật, Khalip và các vương công đại thần thường đích thân tham gia các hoạt động học thuật, phát biểu ý kiến, ủng hộ trường phái này, phản đối trường phái kia. Đặc biệt là Al-Ma’mun, ông có tri thức uyên bác, thông hiểu nhiều loại học thuật, thường xuyên tham gia tranh luận. Sau khi đóng đô ở Baghdad, ông từng hạ lệnh tổ chức cho một đội ngũ các nhà pháp học, giáo nghĩa học và những người trong giới học thuật để ông thảo luận với họ. Sau nhiều vòng sàng lọc, Al-Ma’mun đã chọn được 10 từ trong số 100 ứng viên. Các buổi tọa đàm và thảo luận này là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển học thuật thời đó, nó khích lệ các học giả nghiên cứu và xem xét vấn đề để có thể xuất hiện với tư cách chuyên gia nghiên cứu sâu trong các buổi thảo luận chứ không đến nỗi thất bại. Bởi vì thất bại trước mặt mọi người coi như hủy diệt chính mình. Do đó, các học giả thường cân nhắc kỹ càng và chuẩn bị lâu dài cho một cuộc tranh luận.
Như vậy có thể thấy, kiểu thảo luận học thuật này đóng vai trò tích cực trong việc khơi dậy trí tuệ sống, thúc đẩy văn hóa phát triển.
3. Tiếp thu mọi thứ một cách toàn diện – thực hành sự khoan dung trong học thuật
Sau khi đế quốc Ả Rập thành lập, do các học giả Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Bái Hỏa giáo trong lãnh thổ đế quốc phần lớn là hậu duệ của các cổ quốc văn minh, lại từng học ở các trường học Hy Lạp, nên họ thường có tố chất văn hóa rất cao, tri thức uyên bác, tinh thông chữ số, giỏi viết lách, giỏi quản lý tài chính và ruộng đất, có lẽ còn thêm ảnh hưởng của tư duy “thảm bay” trên bình diện tiềm thức, nên người cầm quyền của đế quốc Ả Rập với họ từ khắp nơi đến Baghdad, cho hưởng đãi ngộ tốt về đời sống, tự do tín ngưỡng về tôn giáo, để học phục vụ cho đế quốc. Sau đó, những học giả ngoại tộc này phần lớn đều hiến mình cho việc dạy học và nghiên cứu học thuật và văn hóa Ả Rập, trong đó không ít người cũng là những dịch giả nổi tiếng, đồng thời cũng là những nhà sư phạm và nhà văn kiệt xuất. Khi Khalip Al-Ma’mun tại vị, trong Cung trí tuệ ở Baghdad đã có rất nhiều học giả Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo, Bái Hỏa giáo. Al-Ma’mun không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo, cũng không phân biệt là dân tộc nào, chỉ cần có học vấn là hậu đãi, để họ tự do nghiên cứu, tự do khám phá. Một thời gian, Cung trí tuệ trở thành đại bản doanh của giới trí thức Đông Tây kiệt xuất.
Khoan dung về học thuật đã mang lại tự do ngôn luận cho vương triều Abbas. Một nhà thơ châm biếm tên là Khuzaei có ngôn ngữ rất sắc sảo, miệng lưỡi sắc bén như đao kiếm của ông đi đến đâu là danh gia vọng tộc khi ấy, dù có ân oán với ông hay không cũng không tránh khỏi bị ông châm biếm. Có người đến chỗ Al-Mamun tố cáo:
“Khuzaei làm thơ châm biếm ngài”. Al-Ma’mun cười nói: “Ông ta còn dám thách thức cả Abu Abbad tàn bạo, điên cuồng, thì mắng một người ôn hòa và khoan hậu như ta có gì đáng lạ?”. Kết quả, chính thi nhân này cũng nói: “50 năm nay, trên vai ta còng một chiếc giá thập tự, nhưng chưa có ai treo cổ ta trên đó”.
Nhờ sự khoan dung này, trí tuệ các nơi do các học giả đem đến đều hòa vào dòng chính của văn hóa Ả Rập, làm cho nó từ một dòng chảy nhỏ biến thành sông lớn dạt dào.
Thế nhưng, khoan dung cũng có giới hạn của nó. Tự do ngôn luận thời bấy giờ có quan hệ rất lớn với tính cách của Khalip. Thí dụ Khalip Al-Mansur hẹp hòi về chính trị, nhưng lại rộng rãi về học thuật. Ông cho phép phái Mutazilah có ý kiến bất đồng và học thuyết của nó tồn tại. Ông còn lôi kéo thủ lĩnh của phái này và khích lệ các nhà chiêm tinh, bác sĩ và các nhà triết học thuộc các trường phái khác nhau. Nhưng việc gì liên quan đến vương quyền, ông không những đa nghi, mà còn trừng trị rất nghiêm. Al-Mansur từng nói: Vương triều Khalip không tha thứ cho ba hành vi tiết lộ cơ mật, làm nhục phụ nữ, bôi nhọ vương quyền. Nếu nói các Khalip đương thời cho phép rất nhiều người được hưởng tự do ở các phương diện, thì ba phương diện này tuyệt đối không được tự do. Nếu học thuật đụng chạm đến vấn đề của ba phương diện này sẽ bị trừng phạt rất gắt gao. Bởi vậy, chỉ khi học thuật không đụng chạm đến vương quyền và chính trị, chúng ta mới có thể nói ngôn luận thời kỳ Abbas là tự do.
