THAM VÀ THỨC ĂN

Trích: Khi nhận biết diễn ra tự nhiên; Nắng Mai dịch; NXB Thế Giới, Công ty TNHN Xuất bản Thiện Tri Thức, 2025.

22/09/2026
11 lượt xem

Như hầu hết chúng ta đều biết, tham và thức ăn thường đồng hành cùng nhau. Khi ăn, chúng ta có khuynh hướng lạc vào các khái niệm. Ví dụ, dù cho thức ăn đó là rau củ, cá, gà, heo hay bò thực chất chỉ là khái niệm (saññã), một cái tên, và chúng ta thì chẳng thể ăn một cái tên hay hình ảnh. Bản chất thực của thức ăn là: vị (mặn, ngọt, chua, đắng, cay), kết cấu (giòn, mịn, lỏng, v.v.), nhiệt độ, mùi hương, và sự kết hợp của tất cả các yếu tố này, pháp (dhamma). Khi xuất hiện cơn đói, mong muốn ăn cũng xuất hiện, tiếp theo là ý định ăn. Tại thời điểm này, nếu có nhận biết và trí tuệ, mình chỉ ăn những gì cần thiết để cơ thể hoạt động khỏe mạnh. Tuy nhiên với phần đông chúng ta, khái niệm có thể vượt qua cái ý muốn ăn đơn thuần, lúc đó nhận biết và trí tuệ biến mất, tham chực chờ ở các giác quan mà mình còn không biết. Trước khi chúng ta biết, thì chúng ta đã lạc trong tham hoặc là sân rồi. Điều này có thể dẫn đến dính mắc, từ đó kéo theo những trạng thái tâm tiêu cực khác như cảm giác dằn vặt, chán ghét bản thân, sân, và từ đó gây ra khổ đau.

Phương án là nhận biết, biết và không khởi khái niệm hóa. Biết vị, kết cấu, mùi, biết khi nào cơn đói được thỏa mãn – đó chính là sự nhận biết đơn thuần với trí tuệ. Phiền não sẽ thầm thì rằng một miếng gà thôi chẳng hại gì đâu: “Nó ngon quá mà”. Nếu chúng ta gặp những vấn đề này với việc ăn, trước tiên, cần nhận biết điều ấy trước và siêng năng trong việc mang sự nhận biết vào. Thứ hai là quan sát các phản ứng của tâm và không lạc vào đó. Ngay tại tác ý, hoặc là trí tuệ hoặc là tham sẽ chiếm ưu thế, chỉ một trong hai. Trở thành người quan sát đứng về phía trí tuệ, điều này sẽ rõ ràng tạo động lực để áp đảo tham. Tôi luôn nhắc các thiền sinh rằng: “Hãy để ý đến tác ý.” Thực tế là mọi việc diễn ra rất nhanh, trong tích tắc chúng ta có thể nghiêng về phía này hay phía kia – trí tuệ hoặc tham. Chỉ cần mất sự nhận biết chỉ trong một khoảnh khắc, chúng ta có thể ngay lập tức đi vào dính mắc.

Chúng ta có thể có phương án, nhưng làm sao để có sức mạnh ngăn lại tâm tham? Chúng ta không chống lại tâm tham, thay vào đó là nhận biết, quan sát và hay biết như nó là, bởi vì tham cũng là một chức năng của tâm, là tự nhiên, là dhamma. Chúng ta thẩm sát và dần quen thuộc với tham. Chính từ tâm quan sát này, mình xây dựng trí tuệ, và trí tuệ này có thể được áp dụng với những trạng thái tâm khiến mình đau khổ. Chúng ta có thể có sự nhận biết và đủ trí tuệ để nhận ra khái niệm này và khả năng quan sát các phản ứng mà không để bị cuốn theo. Nếu có thể duy trì được sự thực hành, chúng ta sẽ dần tạo được đà quán tính và phát triển sự hiểu biết về những gì là cần thiết hay không cần thiết cho sự bình an của mình.

Biết rằng cơ thể này là tự nhiên – không mang tính riêng tư và thân này được duy trì bởi các yếu tố tự nhiên – là điều không dễ hiểu ra. Chúng ta sống một đời bị điều kiện hóa rằng thức ăn có thể mang lại cho mình hạnh phúc. Thức ăn có thể mang lại sự vui vẻ và thỏa mãn trong chốc lát nhưng không phải là hạnh phúc lâu dài. Chúng ta chỉ cần nhìn vào bồn vệ sinh sau mỗi sáng là có thể biết thực phẩm là vô thường và không chứa đựng hạnh phúc thực nào cả. Hầu hết các vấn đề xoay quanh ăn uống và thực phẩm đều khởi nguồn từ sự chủ quan (chẳng hạn như sự dính mắc với một ý niệm rằng món ăn này tốt lắm). Ẩn bên dưới có thể là sân vi tế, ví dụ như khi không vui, nhưng vẫn muốn ăn dù cơ thể không cần nạp thêm dinh dưỡng, hoặc trường hợp khác như rối loạn ăn uống thì không muốn ăn dù cơ thể rõ ràng cần thêm dinh dưỡng. Chỉ với sự quan sát và nhận biết liên tục mới có thể xây dựng trí tuệ cần thiết để hiểu được nguyên nhân và điều kiện dẫn đến các thói quen ăn uống. Nếu khi đang ăn mà tâm nói: “Món này ngon”, thì hãy nhận biết: tham đang rình rập rồi đó. Nếu tâm nói: “Món này thật sự rất ngon”, thì tham đã có mặt luôn rồi.

Chánh kiến là thái độ nhìn nhận rằng cơ thể này bản chất là tự nhiên và chỉ có thể được nuôi dưỡng bởi các yếu tố tự nhiên. Khi nhìn sâu vào, chúng ta có thể thấy được mối tương quan giữa thân và tâm, mà chẳng có “ai” ở đó cả, chẳng có ai trú ngụ trong đó – chỉ đơn thuần là tự nhiên. Việc tiếp cận từ góc nhìn khách quan này mang lại sự tự do trong quan sát, và sử dụng trí tuệ để đưa ra các lựa chọn hỗ trợ cho sức khỏe toàn diện của cả thân và tâm. Một người khôn ngoan sẽ biết cách tận dụng mọi trải nghiệm để phát triển niệm – nhận biết (sati), định (samādhi), và tuệ (paññã). Ngược lại, người thiếu trí tuệ sẽ chỉ lặp đi lặp lại phản ứng với cùng một hoàn cảnh, với tham hoặc sân.

Tại trung tâm này, chúng tôi phục vụ cả chế độ ăn chay lẫn mặn. Một số thiền sinh Mã Lai ăn chay, nên khi nhu cầu được đáp ứng thì họ rất vui. Vậy tại sao ăn chay lại vui? Xét trên bình diện lý trí thì lựa chọn ăn chay là một lựa chọn khôn ngoan, góp phần cho lối sống lành mạnh. Tuy nhiên, nguy hiểm là tham vẫn có thể phát triển: sức khoẻ của ai tốt hơn? Sức khoẻ của tôi! Tâm có thể phát triển sự ám ảnh với lối sống này, tham chiếm lĩnh dưới hình thức của sự ám ảnh. Điều này lại ít phổ biến hơn ở những đất nước mà mọi người sống với chế độ ăn như thế này. Thầy của tôi cũng có một vài quan điểm về chủ đề này. Thầy thường nói: “Ăn chay hay thức ăn sống (thức ăn chưa qua chế biến với lửa) không có nghĩa là ngọn lửa của phiền não không chạm đến con. Thức ăn không tự nó quyết định có hay không có phiền não, chỉ khi ăn với niệm và tuệ thì sẽ không bị đốt cháy bởi ngọn lửa của phiền não – điều này mới quan trọng.”

Và một điểm cuối cùng liên quan đến thức ăn: đôi mắt cũng có thể đưa chúng ta vào rắc rối. Vì chúng ta dễ bị phân tâm bởi những gì đang diễn ra xung quanh nên ghi nhận cái thấy và không chủ động nhìn khi ăn có thể là một phương án hay. Tuy nhiên, không phải ai cũng muốn ăn với đôi mắt nhắm lại. Một thiền sinh kể rằng khi anh ấy vào nhà ăn, anh nhận ra mình thường ngồi ở một phía của bàn, nơi có thể nhìn ra phần còn lại của nhà ăn, để xem mọi người đang ăn gì, và cũng để nhìn một thiền sinh nữ xinh đẹp ngồi ở bàn đối diện. Phương án của anh là thay đổi vị trí, ngồi qua phía đối diện của bàn, quay mặt vào tường, để không ngắm được gì và quan sát các phản ứng trong tâm, khi không nhìn được những gì anh muốn nhìn. Thiền sinh này có thể nhận biết về cách tâm phản ứng với tình huống trên nhưng lại không nhận biết ra sân vi tế với những phản ứng đã thúc đẩy anh ấy chuyển chỗ. Anh ấy có thể vẫn ngồi nguyên tại vị trí cũ và vẫn có thể quan sát những gì diễn ra trong tâm.