ĐẠO TRỜI

Trích: Nam Hoa Kinh/ Trang Tử; Nhượng Tống dịch; NXB Văn học; 2017
Ảnh: Internet
15/01/2026
8 lượt xem
——-🌼🌼🌼——-
Đạo trời vận động mà không chứa vào đâu, nên muôn vật thành. Đạo vua vận động mà không chứa vào đâu, nên thiên hạ theo. Đạo thánh vận động mà không chứa vào đâu, nên bốn bể phục. Rõ về trời; thông với thánh, sáu suốt, bốn mở về đức của các bậc đế vương, thì khi tự làm tất mờ mịt, không còn gì là không tĩnh. Cái tĩnh của thánh nhân, không phải tĩnh đâu, thiện nên tĩnh vậy; muôn vật không cái gì đủ bợn lòng, nên tĩnh vậy. Nước tĩnh thì sáng, soi được râu, mày; đứng được thăng bằng, thợ cả lấy đó làm phép. Nước tĩnh còn sáng, huống chi là tinh thần. Lòng của thánh nhân tĩnh chăng? Gương của trời, đất đó. Kính của muôn vật đó. Kìa hư, tĩnh, điềm đạm, vẳng lặng, không làm, là mực bằng của trời, đất, bậc chót của đạo đức, cho nên các vua, các thánh dừng ở đó. Dừng thì hư. Hư thì thực. Cái thực là có bậc rồi. Hư thì tĩnh. Tĩnh thì động. Động thì đúng được rồi. Tĩnh thì không làm. Không làm thì kẻ gánh việc có trách nhiệm rồi. Không làm thì nhởn nhơ. Kẻ nhởn nhơ, lo buồn không ở nổi, tuổi thọ dài rồi. Mà hư, tĩnh, điềm đạm, vẳng lặng, không làm, là gốc của muôn vật. Rõ lẽ ấy để quay mặt sang Nam, đó là cách làm vua của Nghiêu. Rõ lẽ ấy để quay mặt sang Bắc, đó là cách làm tôi của Thuấn. Lấy lẽ ấy ở trên, đó là đức của các vua, chúa. Lấy lẽ ấy ở dưới, đó là đạo của huyền thánh, tố vương (1). Lấy lẽ ấy ẩn thân mà chơi rong, thì những kẻ ở sông, bể, núi, rừng chịu phục. Lấy lẽ ấy tiến ra làm việc đời thì công danh lừng lẫy mà thiên hạ thống nhất. Tĩnh mà làm thánh. Động mà làm vua. Không làm đó mà đời tôn. Mộc mạc mà thiên hạ không ai tranh được đẹp với nó. Rõ ràng được đức của trời, đất, thế gọi là gốc lớn, tông lớn mà hòa được với trời! Đó là cái dùng để điều đều thiên hạ mà hòa với người. Hòa với người gọi là vui với người. Hòa với trời gọi là vui với trời.
Thầy Trang nói: – Thầy ta ư? Thầy ta ư? Vò nát muôn vật mà không là trái. Ơn kịp muôn đời mà không là nhân. Dài hơn thượng cổ mà không là thọ. Che chở trời, đất, khắc, chạm mọi hình mà không là khéo. Thế gọi là vui với trời. Cho nên nói rằng: kẻ biết vui với trời, lúc sống thì là trời làm; lúc chết thì là vật hóa; tĩnh mà đồng đức với âm; động mà đồng sóng với dương. Cho nên kẻ biết vui với trời, không oán trời, không chê người, không lụy vật, không trách ma. Cho nên nói rằng: lúc động là trời, lúc tĩnh là đất, tấc lòng định mà trị được thiên hạ. Làm ma không trêu, làm hồn không mệt, tấc lòng định mà muôn vật phục. Nói bằng hư, tĩnh; suy ra trời, đất; thông với muôn vật, ấy thế gọi là vui với trời. Vui với trời là lòng của thánh nhân dùng để nuôi thiên hạ. Kìa đức của các đế vương, lấy Trời, Đất làm gốc; lấy đạo, đức làm chủ; lấy không làm làm thường. Không làm thì dùng thiên hạ mà có thừa. Có làm thì bị thiên hạ dùng mà không đủ. Cho nên người đời xưa quý lẽ không làm. Trên không làm, dưới cũng không làm: thế là dưới đồng đức với trên. Dưới đồng đức với trên thì không ai làm tôi. Dưới có làm, trên cũng có làm; thế là trên đồng đạo với dưới. Trên đồng đạo với dưới thì không ai làm chủ. Trên tất phải không làm để dùng thiên hạ; dưới tất phải có làm để cho thiên hạ dùng; đó là đạo không thể thay đổi vậy! Cho nên kẻ trị thiên hạ đời xưa, trí tuy trùm trời, đất, mà không tự nghĩ; biện bác tuy gọt muôn vật mà không tự nói; tài năng tuy cùng trong bể mà không tự làm. Trời chẳng sinh mà muôn vật hóa. Đất chẳng nuôi mà muôn vật lớn. Đế vương không làm mà thiên hạ biết công. Cho nên nói rằng: không gì thần bằng trời; không gì giàu bằng đất; không gì lớn bằng đế, vương. Cho nên nói rằng: đức của đế, vương, sánh với trời, đất. Đó là đạo cưỡi trời, đất, xua muôn vật, mà dùng nhân quần vậy. Gốc ở trên, ngọn ở dưới; cốt yếu ở chúa; rõ ràng ở tôi. Những việc ba quân, năm binh, là ngọn của đạo đức; những tội năm hình, cùng thưởng, phạt, lợi, hại, là ngọn của giáo hóa. Lễ, luật, độ, số, hình, danh, ngày càng kỹ lưỡng, là ngọn của chính trị. Những tiếng chuông, trống, những vẻ cờ quạt, là ngọn của nhạc. Những phép để tang lâu, chóng; những trò khóc lóc, sô gai, là ngọn của lòng thương. Năm món ngọn đó là vì tinh thần chuyển vận, tâm thuật dục động, rồi sau mới làm theo. Những lối học ngọn, người xưa cũng có, nhưng không phải là cái cần dùng đến trước hết. Vua trước rồi tôi theo. Cha trước rồi con theo. Anh trước rồi em theo. Lớn trước rồi bé theo. Trai trước rồi gái theo. Chồng trước rồi vợ theo. Kìa cao, thấp, trước, sau, là phép của trời, đất, cho nên thánh nhân bắt chước. Trời cao, đất thấp là nghĩa của thần minh. Xuân, hạ trước; thu, đông sau, là thứ tự của bốn mùa. Muôn vật sinh nở, chia nảy có hình riêng, là bậc của thịnh, suy, dòng của biến hóa. Kìa trời, đất rất là thần, mà còn có thứ tự cao, thấp, trước, sau; huống chi là đạo người! Tôn miếu chuộng thân; triều đình chuộng sang; hương đảng chuộng tuổi; làm việc chuộng hiền tài; đó là thứ tự của đạo cả. Nói chuyện đạo mà trái thứ tự của nó, không phải là đạo. Nói chuyện đạo mà không phải đạo, thì dùng đạo mà chi! Cho nên kẻ rõ đạo cả đời xưa, trước phải rõ trời, rồi thứ đến đạo, đức. Đạo đức đã rõ, rồi thứ đến nhân, nghĩa. Nhân, nghĩa đã rõ, rồi thứ đến chức, phận. Chức, phận đã rõ, rồi thứ đến hình, danh. Hình, danh đã rõ, rồi thứ đến cất đặt. Cất đặt đã rõ, rồi thứ đến xét đoán. Xét đoán đã rõ, rồi thứ đến phải, trái. Phải, trái đã rõ, rồi thứ đến thưởng, phạt. Thưởng, phạt đã rõ mà khôn dại đáng chỗ; sang, hèn đáng ngôi; giỏi giang, hư hỏng thực tình; phải phân từng tài; phải do từng danh; lấy thế mà thờ trên; lấy thế mà nuôi dưới; lấy thế mà trị vật; lấy thế mà sửa mình. Trí mưu chẳng dùng; tất theo phần trời phú. Thế gọi là thái bình. Trị đến thế là rất mực. Cho nên sách dạy rằng: “có hình, có danh”. Hình và danh, người xưa cũng có, nhưng không phải cái đem dùng trước hết. Kẻ nói chuyện đạo cả đời xưa, năm lần biến mà cất được hình, danh, chín lần biến mà nói được thưởng, phạt. Nói ngay đến hình, danh là không biết chỗ gốc. Nói ngay đến thưởng, phạt, là không biết chỗ đầu. Kẻ ngược đạo mà nói, trái đạo mà thuyết là kẻ bị người trị. Có trị sao được người! Kẻ nói chuyện ngay đến hình, danh, thưởng, phạt, đó là hạng biết có đồ dùng của trị, chứ không biết đạo của trị; có thể dùng ở đời, nhưng không đủ dùng ở đời. Ấy gọi là hạng biện sĩ, hạng người chỉ biết có một dóng. Lễ, luật, hình, danh, độ, số, kỹ lưỡng, người xưa cũng có, nhưng đó là những thứ kẻ dưới dùng để thờ người trên, không phải những thứ người trên dùng để nuôi kẻ dưới.
Ngày xưa Thuấn hỏi Nghiêu rằng:
– Thiên vương! Người dụng tâm thế nào?
Nghiêu nói:
– Ta không khi kẻ không nơi nương tựa; không bỏ những dân cùng khốn; xót người chết; yêu con trẻ mà thương đàn bà. Ta dụng tâm có thế thôi!
Thuấn nói:
– Đẹp thì đẹp thật, nhưng chưa được lớn!
Nghiêu nói:
– Vậy thì làm thế nào?
Thuấn nói:
– Đức như trời, ra mà vẫn yên. Mặt trời, mặt trăng soi mà bốn mùa chuyển vần. Như ngày, đêm có độ thường; mây đi mà mưa tưới.
Nghiêu nói:
– Vậy ra ta lận bận mà lôi thôi quá! Ngươi hợp với trời! Ta hợp với người mà thôi!
Ấy trời, đất, xưa kia vẫn coi là lớn, mà Hoàng Đế, Nghiêu,T huấn đều mến cả. Cho nên kẻ trị thiên hạ đời xưa có làm gì đâu, trời đất đó thôi!
Thầy Khổng sang Tây, cất sách ở nhà Chu. Tử Lộ bàn rằng:
– Do tôi nghe viên quan coi kho sách nhà Chu, có Lão Đam thôi quan về ở nhà. Thầy muốn cất sách, thì thử tới nhờ coi.
Thầy Khổng nói:
– Phải!
Tới ra mắt Lão Đam, nhưng Lão Đam không cho. Vì thế diễn rõ mười hai kinh để thuyết Lão Đam. Lão Đam cho thuyết ấy là quá lan man, xin nghe ý cốt yếu của nó.
Thầy Khổng nói:
– Cốt yếu ở nhân, nghĩa.
Lão Đam hỏi:
– Xin hỏi: nhân, nghĩa là tính của loài người sao?
Thầy Khổng rằng:
– Phải! Người quân tử bất nhân thì không thành; bất nghĩa thì không sinh. Nhân, nghĩa thực là tính của loài người. Lại sẽ làm chi?
Lão Đam hỏi:
– Xin hỏi: thế nào là nhân, nghĩa?
Thầy Khổng đáp rằng:
– Trong lòng thương vật, yêu gồm cả không riêng ai, đó là tình của nhân, nghĩa.
Lão Đam nói:
– Ổ! Suýt nữa lỡ lời! Kìa, yêu gồm cả chẳng cũng viển vông sao! Không riêng ai, tức là riêng đó. Thầy nếu muốn khiến thiên hạ không mất kẻ chăn dắt nó sao? Thì trời, đất vốn có thường; mặt trời, mặt trăng vốn có sáng; các vì sao vốn có hàng lối; chim, muông vốn có đàn; cây, cỏ vốn có đứng. Thầy cũng phỏng đức mà làm theo đạo mà đi, thế đã tới rồi, lại còn xong xóc nên nhân, nghĩa lên chi? Khác nào khua trống mà tìm con lạc. Ôi! Thầy làm loạn tính của loài người đó thôi!
Sĩ Thành Ý ra mắt thầy Lão mà hỏi rằng:
– Tôi nghe thầy là bậc thánh nhân, nên tôi không nề đường xa mà tới xin ra mắt. Đi trăm xá(2), chân kiến rạn mà không dám nghỉ. Nay tôi xem thầy không phải là thánh nhân: hang chuột có thừa rau mà bỏ em gái, thế là bất nhân! Đồ ăn sống, chín không hết ở trước mặt mà thu chứa không bờ bến!
Thầy Lão làm thinh không đáp.
Sĩ Thành Ỷ ngày mai lại ra mắt mà rằng:
– Hôm trước tôi có chê thầy. Nay lòng tôi chính lại rồi! Cớ sao vậy?
Thầy Lão nói:
– Kìa những hạng người khéo, khôn, thần, thánh, ta tự cho là thoát rồi. Trước kia người gọi ta là trâu, mà bảo là trâu. Con ta là ngựa, mà bảo là ngựa. Nếu có thực như thế, người ta cho mình cái danh mà không nhận, thì lại chịu cái vạ ấy! Ta phục là thường phục. Ta không phải có ý phục để phục.
Sĩ Thành Ý đi lánh bóng như chim nhạn, bước từng bước lên, mà hỏi:
– Sửa mình nên như thế nào?
Thầy Lão nói:
– Mặt ngươi thì vạm vỡ. Mắt ngươi thì trô trố. Trán ngươi thì lồ lộ. Miệng ngươi thì hau háu. Vẻ ngươi thì ta đây kẻ giờ(3), như buộc ngựa mà đứng vậy!
Động là giữ gìn. Ra là máy móc. Xét là kỹ lưỡng. Khôn khéo trông thấy hợm hĩnh. Phầm những cái đó, đều là vì không thật. Các miền biên cảnh thường có hạng người ấy: Tên họ là kẻ cắp.
Thầy dạy rằng: kìa đạo: với cái lớn không hết; với cái nhỏ không sót; cho nên muôn vật đủ. Thênh thang không cái gì là không chứa. Thăm thẳm không thể lường được. Hình, đức, nhân, nghĩa là phần ngọn của thần. Không phải bậc chí nhân, ai định nổi nó? Kìa bậc chí nhân, trị cả đời chẳng cũng lớn sao?
Nhưng không đủ làm lụy cho người. Thiên hạ trao quyền cho, mà chẳng cùng đi với quyền. Xét rõ lẽ không giả mà chẳng dời đổi vì lợi. Biết cùng lẽ thật của vật mà giữ được gốc nó. Cho nên coi ngoài trời, đất, bỏ sót muôn vật, mà thần chưa hề có khi bị khốn. Thông với đạo; hợp với đức; lui nhân, nghĩa; gạt lễ, nhạc; lòng của chí nhân đã có chỗ định rồi! Cái mà đời quý, thường nói đến, ấy là sách. Sách chẳng qua có lời. Lời có quý chăng? Cái mà lời quý đến ấy là ý. Ý có chỗ theo. Chỗ mà ý theo đến, không thể lấy lời mà truyền được. Vậy mà đời vì thế quý lời, truyền sách. Đời dù quý những cái ấy chăng? Còn chẳng đáng là quý. Vì cái họ quý chẳng phải là cái quý vậy! Cho nên trông mà thấy được, là hình và sắc; nghe mà thấy được, là danh cùng tiếng. Thương thay cho người đời, lại cho hình, sắc, danh, tiếng là đủ để rô được thực tình của kẻ khác! Mà hình, sắc, danh, tiếng, quả thực không đủ để rõ được thực tình của kẻ khác, thì kẻ biết không nói, kẻ nói không biết, mà đời há biết nó sao!
Vua Hoàn công đọc sách ở trên thềm. Luân Biển đẽo bánh xe ở dưới thềm; buông dùi, đục, bước lên, hỏi Hoàn công rằng:
– Dám hỏi cái mà nhà vua đọc là lời gì vậy?
Công nói:
– Lời của thánh nhân.
Hỏi tiếp:
– Thánh nhân còn chăng?
Công nói:
– Đã chết rồi!
Rằng:
– Thế thì cái mà nhà vua đọc là cặn bã của người xưa mà thôi!
Hoàn công nói:
– Quả nhân đọc sách, kẻ đẽo bánh xe sao được bàn càn? Nói thông thì được. Nói không thông thì chết.
Luân Biển nói:
– Tôi đây lấy việc của tôi mà xem ra: đẽo bánh xe, chậm thì ngọt mà không bền; mau thì chối mà không vào. Không chậm, không mau, hiểu nó ở tay, mà ứng vào lòng. Miệng không nói nổi. Trong chỗ đó, có số còn lại. Tôi không thể đem để bảo con tôi. Con tôi cũng không thể học nó ở tôi. Cho nên tuổi đã bảy mươi mà già đời làm nghề đẽo bánh xe. Người xưa và cái không thể truyền được của họ đều chết cả rồi! Vậy thì cái mà nhà vua đọc là cặn bã của người xưa mà thôi!
——-🌼🌼🌼——-
Chú thích:
(1): huyền thánh, tố vương, những người không làm vua nhưng có đức đáng làm vua, ví dụ như Khổng Tử
(2): Xá: đơn vị đo chiều dài thời cổ, một xá là khoảng 30 dặm, trăm xá tức khoảng 3000 dặm
(3): Ta đây kẻ giờ: kiêu ngạo, tự cao