ĐO LƯỜNG MỨC THÀNH CÔNG TRONG VIỆC LUYỆN TÂM
Trích: Tình Yêu Phổ Quát; Nguyên tác: Universal Compassion; Người dịch: Ni sư Thích Nữ Trí Hải; 2014
Có sáu dấu hiệu tiến bộ trong sự tu tâm, nói trong sáu dòng kế tiếp của bản văn gốc.
Tất cả Pháp đều thâu tóm vào một mục đích
Pháp có nhiều ngành và có thể được tu tập theo nhiều cấp, như Tiểu thừa và Đại thừa. Trong Đại thừa lại có Kinh thừa và Mật thừa. Từ những ngành tổng quát ấy lại có nhiều chi nhánh nhỏ khác nữa. Nhưng dù có rất nhiều pháp tu, tất cả đều cùng một muc đích, và đều là những phương pháp điều phục cái tâm bất trị của ta.
Tâm hiện tại của ta giống như một con voi hoang khó thuần hóa. Vì bị cái tâm bất trị này sai khiến mà ta phải gặp nhiều khó khăn rắc rối. Nếu điều phục được cái tâm hoang dã của mình, làm cho nó ổn định lại, thì ta sẽ tự chủ được và nhờ vậy thoát khỏi những vấn đề hiện tại ta đang vướng mắc. Khi mới điều phục tâm, những ý tưởng tiêu cực có thể vẫn còn khởi lên, song chúng không còn khống chế ta được nữa và cũng không khiến ta phạm hành vi xấu gây rắc rối cho ta. Nhờ tự chủ được tâm, ta có thể luôn an nhiên tự tại, tâm được ổn định trước bất cứ tình huống nào. Khi tâm đã an nhờ điều phục, cuối cùng ta có thể đạt đến hỉ lạc của giải thoát và giác ngộ, mục tiêu của sự tu hành.
Nếu sự tu tâm của ta có hậu quả là bình an, tự chủ, thì đấy là dấu hiệu ta có thành công. Ngược lại, nếu ta tự cho mình là người tu tâm mà tâm ta càng ngày càng bất trị, thì điều ấy chứng tỏ sự tu tập của ta không đúng. Muốn tu luyện tâm cho có hiệu quả thì cần phải có phương pháp thiện xảo.
Hãy nắm lấy chứng cớ chủ yếu trong hai chứng cớ.
Hai chứng cớ ở đây là những dấu hiệu trong và ngoài về sự tiến bộ. Khi những thân hành, ngữ hành của ta an tịnh và khéo điều phục, người khác có thể xem đấy là dấu hiệu bên ngoài chứng tỏ ta là những hành giả thực thụ. Tuy nhiên những dấu hiệu tiến bộ bên trong lại quan trọng hơn nhiều. Do vậy mà câu trên dùng danh từ chủ yếu. Dấu hiệu bên trong là sự điều phục, sự vượt qua những tâm xấu như ngã ái, ngã chấp.
Rất có thể bên ngoài có vẻ như tâm đã điều phục mà bên trong thì không vậy. Long Thụ lấy ví dụ trái xoài trong sống ngoài chín. Có người bên ngoài có vẻ rất ung dung mà bên trong, tâm không được chế ngự. Bởi thế tướng ngoài chưa đủ, mà mối bận tâm chủ yếu của ta phải là điều phục cái tâm.
Luôn luôn chỉ tin cậy một cái tâm hạnh phúc
Mức đo lường sự tu tâm của ta là ta luôn giữ được phong độ và an vui. Trước khi luyện tâm, tâm ta thay đổi tùy theo hoàn cảnh. Gặp lúc cuộc đời êm xuôi tốt đẹp thì ta sung sướng, nhưng khi nó thay đổi theo chiều hướng xấu, ta trở thành đau khổ. Tâm ta quá bất thường tới nỗi nó có thể đổi thay trong chốc lát, phút trước thì cao hứng vui vẻ mà phút sau đã cụp xuống, thất vọng. Một tâm điều phục thì vẫn an vui trầm tĩnh dù gặp bất cứ cảnh huống nào. Vài học giả, thiền giả đã gọi cái tâm có tu là một “đô thị ” dồi dào hạnh phúc. Trên thế giới có rất nhiều đô thị tự cho là có nhiều lạc thú để cống hiến, nhưng đô thị duy nhất cống hiến hạnh phúc chân thực lâu bền là sự luyện tâm. Nếu nhờ luyện tâm mà ta vẫn giữ được an vui dù gặp nghịch cảnh, thì đây là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy pháp tu tâm
Lojong nơi ta đã thành công.
Dấu hiệu có tu là trái ngược
Ở đây, trái ngược là ngược hẳn với thái độ thông thường. Bất luận tu pháp gì, ví dụ trong pháp nương tựa bậc thầy, thì dấu hiệu chứng tỏ sự khéo tu là trái ngược với thái độ thiếu lòng tin của ta trước đấy. Trong các pháp quán về chết và vô thường để thấy đời người quý báu, thì dấu hiệu thành công là ngược lại sự đam mê lạc thú trong sinh tử. Thiền quán về tâm bồ đề tương đối khi có kết quả thì trái ngược sự ái luyến tự ngã. Thiền quán về bồ đề tâm tuyệt đối thì ngược với sự ngu si ngã chấp. Tóm lại, sự trái ngược với những thái độ sai lầm chứng tỏ thành công trong các pháp luyện tâm.
Dấu hiệu có tu là đạt được năm vĩ đại.
Nếu tu tâm có kết quả, ta sẽ được năm sự vĩ đại hay đức tính giống với năm hạng vĩ nhân là bậc đại Bồ tát, bậc đại trì luật, bậc đại khổ hạnh giả, bậc đại tu hành, và đại thiền giả.
Đại Bồ tát là người đã đạt đến tâm bồ đề; đại trì luật là vị có thể thấy được một cách thuần tịnh tất cả mọi khía cạnh của giới luật; đại khổ hạnh là vị có thể chịu đựng mọi chướng ngại đau khổ để chuyển chúng thành con đường tu; bậc đại tu hành là người hành thiện không thấy khó; và bậc đại thiền giả là người đã thực chứng cả bồ đề tâm và chính kiến về Không.
Người có tu thì lúc tán tâm cũng có thể thực hành Pháp
Có thể giải thích điều này với ví dụ sau. Trước khi luyện tâm đại bi, ta có thể lúc thì cảm thấy thương xót, nhưng khi khác lại giận dữ hay ganh tị. Khi luyện tâm đại bi, ta cố từ bỏ giận dữ, ganh tị, và những tâm trạng tiêu cực khác, nhưng vào những lúc bất ngờ đôi khi ta quên tu, và sự giận dữ chẳng hạn, có thể sinh khởi. Ví dụ lúc đầu khi cố ý thực hành hạnh nhẫn nhục thì ta không tức giận nếu bị nhục mạ, nhưng nếu bị khiêu khích nặng nề ta có thể quên tu và nổi giận. Tuy vậy, nếu tiến tu hơn nữa, ta sẽ đạt đến một giai đoạn mà tâm đại bi nơi ta mãnh liệt tới nỗi ta không bao giờ nổi giận dù trong lúc tán tâm. Khi ấy, mỗi lần gặp rắc rối, ta không cần phải cố ý nhớ lại Pháp mà vẫn thực hành nhẫn nhục chịu đựng một cách tự nhiên dù gặp bất cứ cảnh ngộ nào. Cũng như người cỡi ngựa điêu luyện không cần chăm chú vào việc ngồi trên yên; dù có thả hồn đi lang thang ông ta cũng không bị ngã ngựa. Ngược lại người mới tập cỡi ngựa thì phải luôn luôn chú ý. Tương tự như thế, khi chưa đạt đến thực chứng về tâm đại bi thì ta phải luôn luôn tu luyện. Về các pháp tu khác cũng vậy.
Mặc dù ta có thể đã hoàn tất sự học hình thức, nhưng nếu là hành giả về Pháp thì vẫn còn nhiều cấp cao về đức hạnh ta cần đạt đến. Khi tiến tu trong việc luyện tâm, đạt mỗi giai đoạn mới cũng như lên một cấp cao hơn. Khi ta đạt đến đạo lộ tích lũy, ta là một Bồ tát thường; đạt đến đạo lộ Chuẩn bị và Kiến đạo, ta lên cấp hai và ba của sự tu hành; khi đạt đến đạo lộ thứ tư là đạo lộ Thiền quán, ta được cấp thứ tư. Cuối cùng, khi đạt đến đạo lộ Vô học, ta được cấp bực cuối cùng là toàn giác. Điều này chứng tỏ ta phải tiến tu từng bước một trong việc luyện tâm, và luôn luôn xem sự giác ngộ là mục tiêu chính và tối hậu của mình.
