“Mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” và đạo lí làm người
_Ảnh và nội dung tổng hợp từ Google)
“Mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” là câu thành ngữ đã đi vào tâm thức mỗi người dân Việt Nam.
Với người Việt, Tết luôn là dịp lễ lớn và quan trọng nhất trong năm. Đây sẽ là khoảng thời gian để cả gia đình trở về quây quần bên nhau, cùng chuẩn bị dọn dẹp nhà cửa, tống cựu nghênh tân. Bên cạnh đó, Tết còn là dịp mọi người thăm viếng những người thân, thầy cô, bạn bè và cầu chúc nhau một năm mới an khang, thịnh vượng.
Về câu “Mùng 1 tết cha, mùng 2 tết mẹ, mùng 3 tết thầy”, theo chuyên gia văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ (giảng viên trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) cho biết: Các sách sưu tầm đều chỉ ghi: “Mùng 1 Tết cha, mùng 3 Tết thầy”, chứ không có đoạn “mùng 2 Tết mẹ”.
Mồng một Tết cha
Theo quan niệm xưa, ngày mùng 1 là ngày đầu tiên trong năm mới, có tính chất tượng trưng cho sự khởi đầu. Vì vậy, câu nói “mùng 1 Tết cha” chính là có ý nhắc nhở hướng về nguồn cội, cúng bái tổ tiên trước sau đó là thăm hỏi gia đình bên nội, cha mẹ; con cháu chúc Tết và nhận lì xì mừng tuổi đầu năm, cả gia đình sẽ cùng nhau ăn bữa cơm đầu năm, vừa trò chuyện vui vẻ.
Trong sách Việt Nam phong tục (1915), cụ Phan Kế Bính viết về mồng một Tết như sau: “Cúng gia tiên xong thì con cháu ra mừng tuổi ông bà cha mẹ, lạy hai lạy. Ông bà cha mẹ mừng cho con cháu mỗi đứa một vài xu hoặc một vài hào, gọi là tiền mừng tuổi”.
Mồng hai Tết mẹ
Sau khi thăm hỏi chúc Tết gia đình, họ hàng bên nội thì đến đến mùng 2 sẽ là bên ngoại. Những nghi thức cũng tương tự như ngày mùng 1 bên nhà nội. Con cháu chúc tụng ông bà cha mẹ và ông bà cha mẹ mừng tuổi con cháu bằng những đồng tiền mới bọc trong giấy hồng điều tượng trưng.
Sau những nghi thức vừa trang trọng vừa đầm ấm thân tình như thế, ông bà cha mẹ con cháu thường tổ chức ăn cỗ Tết đông vui. Nếp sống đẹp ngày Tết thể hiện sự tri ân của con cháu với ông bà cha mẹ hai bên nội ngoại – cái gốc sinh thành và giáo dưỡng mình nên người.
Mồng ba Tết thầy
Sau khi đã hoàn thành đạo hiếu với bố mẹ hai bên nội ngoại, những người đã có công sinh thành thì tiếp đến là thầy cô – những người có công dạy bảo chúng ta nên người. Đây cũng là ý nghĩa của câu nói “mùng 3 Tết thầy”.
Ngày xưa thầy đồ dạy học là những người học trước thông chữ hoặc đỗ đạt dạy cho người học sau. Học trò muốn học thì kiếm buồng cau xin nhập môn và lạy thầy hai lạy. Đủ học trò, thầy chọn ngày tế thánh rồi mở lớp. Học hết chữ thầy này, nếu muốn theo đòi bút nghiên, trò lại tìm thầy nhiều chữ hơn để học lên.
Thu nhập của các thầy đồ là quà cáp của phụ huynh. Có sách xưa đã viết, lúc học có năm ngày Tết, như Tết Nguyên đán, Tết thanh minh, Tết đoan dương, Tết Trung thu, mùa nào thức ấy, hoặc cặp gà thúng gạo, hoặc đường mứt bánh trái, hoặc dăm ba quan tiền, tùy điều kiện mà đem đến lễ thầy.
Đạo lý thầy trò ngày xưa rất trọng, thầy được coi trọng như cha. Nhà thầy có việc hiếu hỉ, thì trò thông qua trưởng tràng, giám tràng (cán bộ lớp), chăm lo như việc của chính nhà mình. Khi thầy quy tiên, học trò cũng để tang ba năm, có điều không phải tang phục, tang chế đầy đủ. Để tang trong bụng gọi là tâm tang. Học trò thành đạt thường giúp đỡ thầy trong cuộc sống. Nhà thầy không có con trai nối dõi cúng tế thì trò phải cúng tế cho đến hết đời mình. Người xưa chọn “mùng ba Tết thầy” là theo cái đạo nghĩa đó, thể hiện lòng biết ơn và tôn sư trọng đạo.
Hiện nay, nhiều người linh động hơn trong việc đi chúc Tết và tuỳ vào hoàn cảnh, điều kiện của mỗi gia đình để việc chúc Tết thuận tiện và không quá nặng nề, áp lực. Ngoài các mối quan hệ họ hàng, nội tộc, thầy cô thì có những mối quan hệ xã giao, công việc, làm ăn bên ngoài.

