NGỌN ĐÈN TRÍ HUỆ TỎA KHẮP
Trích “NGỌN ĐÈN TRÍ HUỆ TỎA KHẮP” – Bình Giảng Về “Ba Lời Tuyên Thuyết Của Đại Viên Mãn Dzogchen”
Tác giả: H.E Garchen Triptul Rinpoche
Phiên dịch Anh – Việt: Trần Thị Lan Anh;
Hiệu đính: Ban dịch thuật Thiện Tri Thức, 5/2019.
Ảnh nguồn internet
🌼🌼🪷🌼🌼
Tiếp theo bản văn nói đến “giải thoát thông qua sự chú tâm trần trụi”, “giải thoát ngay khi sinh khởi”, “giải thoát tự nhiên”, hay bất cứ cách gọi gì khác có thể áp dụng. Pháp tu này có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau, nhưng chúng cùng chỉ đến phương pháp giải thoát. Sau đó có phần bình giảng của Khenpo Munsel Rinpoche, Ngài nói:
Vì bản tánh nền tảng của căn bản vốn là bất biến nên nó là “giải thoát một cách bổn nguyên”.
Cầu Nguyện Phổ Hiền Như Lai nói rằng Phật Tánh chính là Phật nguyên thủy, chưa từng bao giờ mê lầm và vì thế đã giải thoát từ vô thủy.
Trong bối cảnh này, bởi vì các quan niệm của một người thường phàm – là sự chấp vào cực đoan – đã được lắng dịu vào pháp giới của hư không, nó là “giải thoát khỏi các cực đoan”.
Có nhiều kiểu bám chấp vào các tri kiến khác nhau như chấp thường tồn, chấp đoạn diệt, chấp tồn tại, chấp không tồn tại. Khi không còn bám chấp vào bất cứ thứ gì thì những cực đoan này hoàn toàn được phá hủy. Đây chính là giải thoát khỏi các cực đoan. Khenpo Munsel Rinpoche nói tiếp:
Khi tánh giác được thức tỉnh ngay giữa tâm bạn thì mọi niệm tưởng có khả năng xuất hiện đều được giải thoát mà không tích lũy thêm những dấu ấn nghiệp, đó là “tự giải thoát”. Những hiện tướng không bị từ bỏ, chúng được giải thoát ngay vào lúc xuất hiện; chuyển động không bị từ bỏ, chúng được giải thoát ngay khi vừa khởi động. Điều này được gọi là “giải thoát trần trụi”. Do đó khi sự bình ổn của tự giải thoát và sự bao la của thiền chỉ không bị đánh mất thì bạn có thể để cho sự giải thoát trần trụi trong trạng thái hậu thiền định.
Sau đó Patrul Rinpoche tiếp tục:
“Giải thoát ngay lúc sinh khởi”, “tự giải thoát”, “giải thoát trần trụi” hay bất cứ tên gọi nào bạn có thể dùng, phương pháp giải thoát này, khi những niệm tưởng tự giải thoát chính chúng và được tịnh hóa không dấu vết gì, có cùng một điểm cốt tủy: trực tiếp chỉ ra tự giải thoát. Đây là phẩm tính đặc biệt của Đại Viên Mãn tự nhiên.
Khi chúng ta nghỉ ngơi trong sự bình ổn thiền định và tánh giác được duy trì một cách ổn định, thì cho dù các niệm tưởng hay cảm xúc tiêu cực gì sinh khởi, chúng cũng không thể ngăn che tâm. Vì thế chúng được giải thoát mà không để lại dấu vết gì. Chúng ta có thể gọi bằng các cách khác nhau nhưng chúng đều mô tả một bản chất, đó là sự giải thoát tự nhiên của các niệm tưởng.
Về “Không từ bỏ các hiện tướng, thay vào đó, được giải thoát ngay vào lúc xuất hiện”, điều này rất ý nghĩa vì nó nói đến sự hợp nhất của hình tướng xuất hiện và tánh Không. Thông thường chúng ta nghĩ rằng bất cứ thứ gì xuất hiện – vũ trụ và mọi chúng sinh – là thực có. Cái tạo ra mọi hiện tượng chính là tâm. Khi nhìn vào tâm, bạn sẽ không tìm thấy gì cả. Qua đó bạn nhận ra sự vô ngã hay tánh Không. Nhưng rồi nếu một người hiểu được về tánh Không thì có thể có bám chấp vào suy nghĩ rằng mọi thứ là trống không và chẳng có gì thật sự tồn tại. Kể cả suy nghĩ như thế thì nghiệp vẫn trổ quả. Bám chấp vào tánh Không – hay chấp hư vô – sẽ dẫn bạn đi lạc lối. Nghĩ rằng mọi thứ là trống không và không tồn tại đơn thuần cũng là một niệm tưởng nữa. Nếu bạn để cho tâm mình được nghỉ ngơi trong trạng thái bản nhiên của nó thì sự bám chấp này – cũng là một niệm tưởng khác – sẽ tan biến. Trụ trong cái thấy, hành giả sẽ không nghĩ nó tồn tại hoặc không tồn tại. Đây chính là cái thấy của Trung Quán (Madhyamaka). Dù bất cứ thứ gì xuất hiện thì cũng không có bám chấp vào sự hiện hữu của nó, và cũng không có bám chấp vào sự không hiện hữu của nó. Chẳng có bất kỳ một niệm bám chấp nào. Nếu không có các niệm tưởng bám chấp thì tâm sẽ không bị che chướng.
Patrul Rinpoche nói tiếp:
Các chuyển động không bị từ bỏ, chúng được giải thoát ngay khi vừa khởi động.
Một hành giả mới có thể nhận biết niệm tưởng mà ở đây được mô tả như là “chuyển động”. Khi một niệm tưởng sinh khởi, bạn nhận ra nó, và nó tan biến; trừ khi bạn bị sao nhãng và bị mất chánh niệm. Khi điều này xảy ra hãy quay trở lại với chánh niệm. Như thế thì bạn sẽ đạt được vững chắc, lúc đó không có gì có thể tác động đến tánh giác của bạn nữa. Khi bạn có được vững chắc thì không cần phải từ bỏ bất kỳ chuyển động nào sanh khởi bởi vì chúng không thể gây hại được nữa. Đó gọi là giải thoát trần trụi.
Bình giảng của Ngài Tenpe Nyima nói rằng:
Cái thấy của Patrul Rinpoche là tánh giác – Pháp giới vô hạn, toàn khắp (Longchenpa toàn giác), thiền định của Ngài là vua của chánh niệm tối thượng (Jigme Lingpa hay Khyentse Oser); và công hạnh của Ngài là phương pháp giải thoát (Gyalwe Nyugu, công hạnh của những Bồ tát).
Patrul Rinpoche nói rằng, thực hành này sự giải thoát của cái thấy, thiền định và công hạnh – là độc nhất. Nếu bạn nghỉ ngơi trong bản tánh của tâm và tiếp tục an trụ trong tánh giác thì bản thân điều đó bao hàm cái thấy, thiền định và công hạnh.
Cũng trong bản bình giảng này có nói rằng, mặc dù trong Đại Thủ Ấn có giải thoát nhưng không có phương pháp của giải thoát. Giải thoát hiện diện trong sự thực hành Đại Thủ Ấn nhưng ở góc độ giáo pháp thì không có những giải thích cụ thể về phương pháp giải thoát trong Đại Thủ Ấn. Trong Đại Thủ Ấn, chủ yếu là bạn trưởng dưỡng lòng sùng mộ và đó là cách thực hành. Tuy nhiên trong giáo pháp Đại Viên Mãn chỉ ra khoảnh khắc chúng ta đạt giải thoát và phương pháp giải thoát. Bản văn nói tiếp:
Trong phương pháp này, không có sự từ bỏ như trong pháp tu của hàng Thanh Văn hay hành giả sơ cơ, cũng không có áp dụng như con đường của những Bồ tát, cũng không có chuyển hóa – giống như là làm cho nước ra khỏi tai bằng cách rót nước vào tai như trong các tantra(mật điển) thông thường khác. Vì thế, nếu bạn nắm giữ được điểm cốt tủy này thì bất cứ phiền não hay niệm tưởng nào xuất hiện cũng sẽ trở thành Pháp thân, những suy nghĩ mê lầm sẽ được tịnh hóa trở thành trí tuệ, các tình huống bất lợi sẽ trở thành bạn hữu, và cảm xúc ô nhiễm trở thành con đường. Khổ Đế và Diệt Đế cũng như các cảm xúc ô nhiễm sẽ hóa thành Đạo Đế.
Tại sao lại nói rằng trong Đại Thủ Ấn có giải thoát nhưng không có phương pháp giải thoát? Phương pháp giải thoát là gì? Ở đây nó không giống như phương pháp của các hành giả thuộc các thừa thấp hay các hành giả sơ cơ, đối với họ thì các cảm xúc tiêu cực cần được từ bỏ. Ví dụ trong thừa thấp, hành giả nghĩ về hậu quả của các cảm xúc tiêu cực và khổ đau của ba cõi thấp. Hành giả lo sợ bị đọa sinh ở đó và vì thế mong nguyện từ bỏ các cảm xúc tiêu cực. Đây không phải là phương pháp giải thoát khi thực hành Đại Viên Mãn.
Và nó cũng không phải là phương pháp giải thoát của Bồ Tát thừa. Phương pháp của Bồ Tát thừa là nương vào tình yêu thương và lòng bi mẫn, từ đó cảm xúc tiêu cực được chuyển hóa thành Ba La Mật. Nó cũng không phải là phương pháp giải thoát trong các mật điển – ở đó chúng ta thọ nhận quán đảnh và được chỉ ra con đường giải thoát. Phương pháp giải thoát trong mật điển cũng giống như làm sạnh nước trong tai bạn bằng cách rót thêm nước vào nó để tất cả được trào ra. Phương pháp giải thoát trong Đại Viên Mãn là duy nhất ở chỗ hành giả chỉ sử dụng sức mạnh của tánh giác để chuyển hóa phiền não trở thành trí tuệ.
Ở trên chúng ta đã nói đến các giải thích về cách gọi khác nhau và các phương pháp giải thoát khác nhau. Nhưng một điều gì mà chúng ta cần chắt lọc và nhớ giữ trong tâm? Điều ấy chính là:
Bất cứ niệm tưởng hay cảm xúc nào sinh khởi sẽ trở thành pháp thân; các niệm tưởng mê lầm trở nên thanh tịnh như trí tuệ, các tình huống tiêu cực xuất hiện như bạn hữu, và cảm xúc tiêu cực trở thành con đường.
Đây là điểm cốt yếu cần ghi nhớ. Bất cứ khi nào cảm xúc tiêu cực sinh khởi, hãy đón nhận nó như là con đường thông qua việc duy trì tánh giác, nhờ đó loại bỏ cảm xúc tiêu cực ấy mà không để lại dấu vết gì.
Những khái niệm khác như đã nói cũng đều ý nghĩa. Chúng mang nhiều năng lực gia trì, nhưng chúng ta không thể nắm giữ mọi thứ. Tất cả những gì chúng ta cần hiểu bao hàm trong những từ ngữ này “cảm xúc tiêu cực được làm thành con đường”.
Ngài Tenpe Nyima nói rằng: “cảm xúc tiêu cực trở thành con đường. Khổ Đế và Diệt Đế cũng như các phiền não xuất hiện như là Đạo Đế.” Đức Phật dạy rằng đầu tiên bạn cần nhận ra khổ đau và sau đó loại trừ gốc rễ của khổ đau. Gốc rễ của khổ đau là các cảm xúc tiêu cực. Ngài Tenpe Nyima nói tiếp:
Sanh tử luân hồi, không phải từ bỏ, nó được tịnh hóa ngay chỗ của nó, và bạn được giải thoát khỏi sự trói buộc của hai thái cực sanh tử và niết bàn. Bạn đã đạt đến trạng thái không nỗ lực, không dụng công, nơi ấy chẳng có gì còn lại phải làm.
Tiếp theo, bản văn gốc nói đến: “trạng thái pháp thân không trau dồi Ở đây các cảm xúc tiêu cực đã trở thành con đường, chúng là sự hỗ trợ/trợ duyên cho đường tu, chúng giúp tăng cường sự thực hành của hành giả. Hành giả không ở trong sự trói buộc của luân hồi hay niết bàn. Đức Milarepa nói rằng nếu bạn từ bỏ luân hồi thì vượt khỏi đó chẳng có niết bàn nào để đạt đến. Cho dù thân một người vẫn ở trong thế gian này, ở trong luân hồi, thì tâm người ấy vẫn có thể không ở trong luân hồi vì không có phiền não trong tâm ấy. Ví dụ đức Liên Hoa Sanh (Guru Rinpoche) đản sanh từ bông hoa sen. Bông hoa sen tượng trưng cho việc sống trong luân hồi nhưng không bị nhiễm ô bởi những lỗi lầm của luân hồi, cũng giống như hoa sen mọc lên từ bùn mà không bị nhiễm bẩn bởi bùn. Các vị Bồ Tát vẫn sống trong luân hồi để mang lại lợi lạc cho chúng sinh, nhưng họ không bị ô nhiễm bởi các lỗi lầm của luân hồi. Lỗi lầm của luân hồi là sự bám chấp vào các niệm tưởng và phiền não. Đức Longchen Rabjam đã dạy trong Kho Báu Các Chỉ Dẫn Cốt Lõi rằng, “khi những niệm tưởng lan man được giải thoát vào trong chính nơi chốn của chúng thì không cần thiết phải từ bỏ luân hồi”.
🌼🌼🪷🌼🌼
