CÁC VỊ PHẬT ĐỀU “ÍCH KỶ”
Trích: Trí Tuệ Của Sự Tha Thứ; Người dịch: Phạm Quốc Anh; NXB. Thế giới, 2022
LHAKDOR NGỒI THẲNG NGƯỜI trên mép chiếc ghế dài. Vị sư thông dịch im lặng một cách bất thường. Bây giờ mới là 4:30 sáng, có lẽ thức dậy giờ này còn quá sớm với ông. Drolma, cô chó thuộc giống chăn cửu Đức của Đức Đạt Lai Lạt Ma, đang nằm cuộn mình bên cạnh ông, chẳng thèm đoái hoài đến sự xuất hiện của chúng tôi. Chiếc tô và bát nước bảng thép của nó được đặt trên mặt sàn, bên cạnh chiếc ghế.
Giờ là gần cuối tháng Ba năm 2002, hai tháng rưỡi sau cơn bạo bệnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Bồ Đề Đạo Tràng. Lhakdor và tôi đang ở căn phòng khách dưới tầng trệt tại tịnh thất của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Dharamsala. Chúng tôi chuẩn bị có một cuộc gặp với nhà lãnh đạo Tây Tạng. Đây là lần đầu tiên kể từ khi ngã bệnh mà Ngài đủ khỏe để tiếp khách. Và cũng là lần thứ hai trong vòng ba năm, tôi có được vinh dự hiếm hoi tháp tùng Đức Đạt Lai Lạt Ma đi dạo buổi sáng. Tôi muốn được tận mắt nhìn thấy Ngài đã bình phục.
Các món đồ nội thất bằng mây đan trong phòng khách và tấm thảm lót chân đã hơi ngả màu và sờn rách. Một bức tranh chân dung của Đức Đạt Lai Lạt Ma vẽ bằng sơn dầu được treo trên một bức tường. Xét vẻ ngoài của bức tranh thì có lẽ nó đã được vẽ từ rất lâu rồi. Một bức tranh khác vẽ chi chít các nút thắt nổi bật trên nền màu xanh trong của bầu trời được dựng cạnh một chân bàn. Rõ ràng Ngài hiểm khi sử dụng căn phòng này. Đức Đạt Lai Lạt Ma không có lý do gì để xuống đây khi tất cả những gì Ngài cần – từ phòng thiền, phòng làm việc, phòng ăn – tất cả đều đặt trên lầu hai. Và Ngài luôn ưu tiên tiếp các vị khách tới thăm trong khán phòng nằm xa về phía dưới ngọn đồi thuộc khu nhà ở.
Căn phòng này khiến tôi có cảm giác giống như ở bên trong một boong ke quân sự. Tòa nhà này hẳn nhiên được thiết kế để chịu động đất, thậm chí còn chống lại được ảnh hưởng của thảm họa tự nhiên này. Những thanh dầm khổng lồ bằng bê tông được dùng để chống đỡ cho toàn bộ mặt sàn bên dưới. Trần nhà thấp làm tăng thêm cảm giác ngột ngạt cho những người có hội chứng sợ không gian kín.
Đúng 4:40 sáng, một người vệ sĩ Tây Tạng tới báo cho chúng tôi biết Đức Đạt Lai Lạt Ma đang đi xuống tầng trệt. Chúng tôi rời khỏi căn phòng và mau chóng bước ra ngoài. Làn không khí trong lành dễ chịu của buổi sớm mai được hòa quyện nồng nàn bởi những loài hoa của xứ này. Chiếm gần như toàn bộ không gian trống của khoảng sân phía trước là những chậu hoa nằm chen chúc, từng bó hoa màu tím và xanh đậm tô điểm thêm cho những bông hồng đỏ mọc cao hơn phía sau. Toàn bộ tòa nhà hai tầng sáng bừng lên như một con thuyền giữa đại dương bao la, tắm mình trong ánh nắng ban mai của cả khu vườn. Một vài vệ sĩ người Tây Tạng đang đi lại ngay trước cổng vào. Trong khi người dân ở Dharamsala còn đang say giấc thì tại nơi vắng vẻ này đã diễn ra những hoạt động thầm lặng, đầy ý nghĩa.
Đức Đạt Lai Lạt Ma chầm chậm bước từng bước xuống những bậc thang được gia cố chắc chắn bên ngoài căn nhà. Ngài mặc y áo nhưng không khoác lớp khăn choàng bên ngoài. Phần vai và cánh tay Ngài để trần. Sau khi gật đầu với Lhakdor, Ngài tiến lại gần tôi, thẳng lưng dậy và vui vẻ chào to “Ni hao?” — là câu chào bằng tiếng Trung Quốc Ngài thường dùng mỗi khi gặp tôi – rồi quay lưng bước đi với nhịp chân hối hả. Đã hơn hai tháng kể từ lần cuối tôi trông thấy Ngài. Khi ấy, Ngài phải lê từng bước chân khó nhọc để rời khỏi Tu viện Shechen tại Bồ Đề Đạo Tràng và được đưa tới một sân bay nhỏ tại Gaya. Tại đó, một chiếc trực thăng đã đợi sẵn để đưa Ngài tới một trong những bệnh viện hàng đầu của Ấn Độ. Tuy nhiên, trong tiết trời xuân sáng nay, trông Ngài tỉnh táo và tràn đầy sức sống, dù vẫn có phần nào hơi hốc hác. Hẳn Ngài đã bình phục hoàn toàn khỏi cơn bạo bệnh vừa rồi. Hai nhân viên người Ấn Độ trong trang phục quần kaki và áo chắn gió không biết từ đâu xuất hiện và nối bước theo sau Ngài. Các vệ sĩ người Tây Tạng cùng Lhakdor và tôi đi sau cùng.
Chúng tôi nhanh chóng bước đi, ra khỏi vùng ánh sáng hắt xuống từ tịnh thất. Đi bộ dọc theo một con đường bê tông rộng, chúng tôi đi ngang qua một khu nhà kính dài và hẹp. Rồi cả đoàn tiến tới một khu vườn rậm rạp thiếu ánh sáng. Một người lính gác Ấn Độ, khoác trên người chiếc áo khoác ngắn chống lạnh, đang đứng thẳng cạnh một cái chòi bằng bê tông. Khẩu súng trường của anh được bồng ngay ngắn bên hông, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiến tới chỗ người lính, đùa giỡn kéo nhẹ khẩu súng của anh và chúc anh buối sáng tốt lành. Người lính dường như đã quen với điều này, vẫn nhìn thẳng về phía trước và nói ngắn gọn: “Chào buối sáng, thưa Ngài”.
Chúng tôi đi vòng qua chân một ngọn đồi nhỏ với những lá cờ cầu nguyện và một tòa bảo tháp trắng ở trên đỉnh. Con đường thu hẹp lại khi chúng tôi dần tiến tới hội trường. Khu vực này vẫn còn tối đen. Một người vệ sĩ đã tiến lên phía trước và bật chiếc đèn pin, soi sáng lối đi được phủ kín bởi những chùm hoa giấy. Đức Đạt Lai Lạt Ma đi dọc theo cung đường hình tròn dẫn lên đồi tới tu viện riêng của mình. Phía bên kia tòa nhà là lối đi dốc đứng dẫn xuống một khu vực cây cối rậm rạp để trở lại khu vực nhà ở. Đức Đạt Lai Lạt Ma bước thật chậm trên đoạn đường cuối cùng này, cẩn trọng từng chút một trên con đường lên dốc trong thứ ánh sáng lờ mờ buổi sớm. Rồi chúng tôi quay trở lại điểm xuất phát. Tôi lấy làm ngạc nhiên một cách thích thú khi Ngài quay lưng và đi thêm một vòng nữa. Khi lần đầu tiên được đi cùng Ngài trong chuyến tản bộ buổi sớm, Ngài dừng chân đâu đó ngay khi vừa đi qua nhà kính rồi quay lại khiến tổng chiều dài đoạn đường chỉ nhỉnh hơn chiều rộng của một sân bóng đá chút đỉnh. Trong suốt hai năm kể từ ngày ấy, tôi thường nói đi nói lại về tầm quan trọng của việc luyện tập thể chất, và cảm thấy vô cùng vui mừng khi Ngài coi đó là một vấn đề nghiêm túc. Buổi sáng hôm ấy, Đức Đạt Lai Lạt Ma hoàn thành ba vòng đi bộ tất cả. Vào cuối buổi tập, Ngài chào tạm biệt chúng tôi và lên lầu tắm rửa rồi dùng bữa sáng. Chuyến đi diễn ra trong gần nửa tiếng, và làm tôi toát mồ hôi dù đang đứng trên vùng núi cao với không khí mát lạnh.
Dù chỉ mới nhìn thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma qua thứ ánh sáng mờ ảo của buổi sớm mai, tôi cũng có thể thấy Ngài đã bị sụt ký. Không quá ngạc nhiên khi Ngài đã nằm trên giường bệnh trong suốt hai tháng đầu năm. Trong một vài giờ nữa, tôi đã lên lịch để bắt đầu một cuộc phỏng vấn với Ngài. Tôi nóng lòng muốn được hỏi về bệnh tình của Ngài.
KHI BƯỚC VÀO KHÁN PHÒNG chiều hôm ấy, tôi ngạc nhiên một cách thích thú khi thấy sự có mặt của Ngari Rinpoche cùng với Lhakdor. Người em trai út của nhà lãnh đạo Tây Tạng không tham dự tất cả các buổi phỏng vấn của tôi, nhưng vào những dịp hiếm hoi khi Ngài xuất hiện, thường do Đức Đạt Lai Lạt Ma đề nghị, khiếu hài hước tuyệt vời của Ngài Rinpoche giúp tôi cảm thấy bớt hồi hộp. Đức Đạt Lai Lạt Ma có mặt sau ít phút, vẫn đúng giờ như thường lệ. Ngài ngồi xuống chiếc ghế nệm của mình và nhìn tôi bằng ánh mắt chờ đợi.
“Ngài cảm thấy trong người ra sao rồi?” Tôi mở đầu.
“Ổn cả. Chỉ có một vấn đề duy nhất, đầy hơi”, Ngài đáp,
“Triệu chứng của bệnh chướng bụng, rất nhiều hơi”, Ngari Rinpoche giải thích.
“Chướng hơi, rồi có đôi khi cũng đau bụng nữa. Nhưng việc đi đứng thì không vấn đề gì”, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. Tôi để ý thấy Ngài ngồi sát ra mép ngoài của chiếc ghế chứ không ngả lưng về phía sau như thường lệ. Tiếng Anh của Ngài cũng trở nên lấp vấp hơn thấy rõ.
Tôi đặc biệt quan tâm đến những gì đã xảy tới với Đức Đạt Lai Lạt Ma từ sau chuyến hành hương tới phế tích của Đại học Phật giáo Nalanda và Núi Linh Thứu. Ngài kể rằng Ngài cảm thấy đau bụng trước khi đoàn xe dừng lại ở Patna rất lâu. Những cơn đau thắt ấy khủng khiếp tới nỗi chúng khiến Ngài co quắp người lại. Để cố làm dịu cơn đau, Ngài thay đối tư thế, dựa lưng vào cánh cửa, quay mặt về hết hướng này đến hướng khác. Cuối cùng Ngài bỏ cuộc và nằm quay mình về bên trái, vùi đầu và vai vào chỗ để tay trên cánh cửa. Mỗi đoạn gập ghềnh trên con đường lại khiến toàn thân Ngài quặn đau khôn tả. Hai mắt Ngài nhắm nghiền và mồ hôi vã ra không ngừng, dù nhiệt độ trong xe đã được giảm xuống rất thấp.
Trước cuộc phỏng vấn này, tôi đã nói chuyện với sĩ quan liên lạc người Ấn Độ phụ trách điều hành an ninh, Tôi muốn biết chi tiết về chuyến xe đi từ Nalanda tới Patna. Người sĩ quan này đã đồng hành cùng Đức Đạt Lai Lạt Ma trong rất nhiều chuyến đi trước đây tại Ấn Độ nhưng chưa khi nào thấy Ngài chịu nhiều đau đớn đến vậy. Bị cảm sốt hay tiêu chảy nhẹ thì có. Nhưng chưa từng có cơn đau nào như vậy. Đức Đạt Lai Lạt Ma cuộn mình lại như một chú chó bị trọng thương, mà còn chừng một tiếng nữa đoàn xe mới tới được Patna. Viên sĩ quan dùng bộ đàm liên lạc với trưởng đoàn cảnh sát hộ tống và thông báo về tình trạng của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Cả đoàn xe tăng tốc, chớp đèn và hụ còi liên hồi. Những chiếc xe hơi và xe tải tấp hết vào hai bên đường để nhường cho đoàn hộ tống vượt lên trước. Việc được ưu tiên chạy giữa lòng đường khiến chiếc xe phần nào tránh được những ổ gà hai bên lề đường, và điều này dường như khiến cơn đau của Đức Đạt Lai Lạt Ma dịu đi phần nào.
Tuy vậy, khi tới vùng ngoại ô của Patna, đoàn hộ tống phải nhích từng chút một. Ùn tắc giao thông xảy ra trên toàn bộ con đường vào đầu giờ tối, và tiếng còi inh ỏi nghe thật đinh tai nhức óc. Mọi tài xế trên đường đều giống như đang ấn tay trên chiếc còi của mình, hay chí ít là Đức Đạt Lai Lạt Ma cảm thấy như vậy. Thậm chí cả với sự giúp sức của đoàn cảnh sát hộ tống, họ cũng không thể đi nhanh hơn. Đoàn xe bị ép chặt giữa những chiếc xe buýt chạy bằng dầu diesel nhả khói liên tục và những chiếc xe ba bánh chỉ chực để lao vút về phía trước. Bởi chiếc xe liên tục dừng lại và tăng tốc đột ngột, Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu cảm thấy nhộn nhạo trong bụng. Ngài gắng gượng ngồi thẳng dậy và phát hiện ra rằng cơn buồn nôn có phần thuyên giảm khi Ngài nhìn ra phía ngoài cửa số.
Đó là lúc Ngài nhìn thấy một ông lão và một cậu bé phía bên kia đường.
“Khi ấy tôi đang rất, rất đau”, Đức Đạt Lai Lạt Ma mô tả lại hoàn cảnh lúc bấy giờ cho tôi nghe. Ngari Rinpoche nghe như nuốt trọn từng lời của Ngài. Chính ông cũng chưa được biết đến những chi tiết này. “Rồi tôi nhận ra sự đồng dạng của những thứ chất lỏng này… nước… mồ hôi. Đó là khi tôi nhận ra rằng: nước chảy ra từ mắt có liên kết tới cảm xúc. Nước thoát ra từ cơ thể có liên kết tới những cơn đau thể chất. Bởi vậy, khi chịu đựng những cơn đau thể chất nhức nhối, nước sẽ không chảy ra từ mắt được, chỉ thoát ra từ cơ thể mà thôi. Sự khác biệt là gì, chúng liên kết với nhau ra sao, tôi cũng không rõ. Rồi tôi nhìn thấy một ông lão có mái tóc dài, bù xù”. Đức Đạt Lai Lạt Ma giơ bàn tay phải lên quá đỉnh đầu. Dùng ngón cái và ngón út, Ngài mô tả lại cho tôi thấy tóc của ông lão ấy xù cao lên tới chừng nào. “Và bộ râu cũng dài. Trông thật sự nhếch nhác. Quần áo của ông lão dính đầy đất cát”. Ngài nhăn mặt khi nhớ lại hình ảnh thảm thương ấy.
“Và tôi thấy có quá nhiều trẻ em nghèo khó. Chúng không được học hành, sống lang thang bên vệ đường. Tôi nhìn thấy một đứa bé nhỏ cỡ này”. Đức Đạt Lai Lạt Ma giơ cánh tay ra dấu rằng đứa bé cao chừng hơn một mét. Rồi Ngài cúi xuống nắm vào ống chân mình bằng cả hai tay: “Đứa bé bị bại liệt, cả hai chân đều mang nẹp và phải đi bằng nạng. Trong khi tôi chịu đựng những nỗi đau thể xác này, trước mắt tôi chỉ có hình ảnh của những con người nghèo khổ ấy. Không một ai quan tâm đến họ trong khi tôi được chăm sóc thật đầy đủ”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắm mắt và trầm ngâm. Sau ít phút, Ngài tiếp lời: “Dù thân xác tôi có đau đớn, nhưng tâm trí tôi lại chẳng hề lo sợ. Khá bình thản, chỉ thấy hơi bất tiện mà thôi. Tại sao lại có cảm giác bình thản ấy? Cơ thể tôi chịu đau đớn, nhưng tâm trí tôi chỉ nghĩ tới những con người không có ai chăm sóc kia. Bởi vậy cơn đau của tôi không có gì quá to tát. Sự quan tâm tới người khác dường như giúp xoa dịu cơn đau của tôi. Trải nghiệm này cho thấy việc khởi lòng từ bi thực sự rất có ích, cho chính bản thân mình trước chứ không nhất thiết phải có lợi cho người khác. Tôi suy ngẫm về tình trạng khốn khổ của ông lão và của đứa trẻ bị bại liệt kia. Chính sự quan tâm, lo lắng ấy giúp giảm bớt đi nỗi đau thể xác của tôi. Đó là điều rất tốt”.
Tôi hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Vậy có phải đây chính là ý Ngài muốn nói khi giảng trong các bài pháp, rằng tất cả các vị Phật và Bồ Tát trên thế giới đều là những sinh linh ích kỷ nhất, bởi khi vun bồi lòng vị tha cũng chính là khi họ đạt được hạnh phúc tối hậu cho bản thân?”.
“Đúng vậy. Đó là sự ích kỷ sáng suốt”, Ngài đáp. “Giúp đỡ người khác không đồng nghĩa với việc ta phải chịu thiệt thòi. Không phải như vậy. Các vị Phật và Bồ Tát đều là những đấng rất thông thái. Cả cuộc đời họ chỉ cầu mong một điều: đạt được niềm hạnh phúc tối hậu. Bằng cách nào? Thông qua việc bồi đắp năng lực vị tha, năng lực từ bi. Khi họ quan tâm tới người khác, chính bản thân họ là người được hưởng lợi đầu tiên. Họ không nghĩ rằng: “Ta là người quan trọng nhất, những người khác phải xếp sau ta’. Không phải vậy.
Họ chú tâm coi trọng hạnh phúc của người khác, xem đó là điều quan trọng nhất. Và điều này thật sự mang lại lợi ích tối đa cho chính họ”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma chợt nghĩ ra một điều gì đó. Ngài quay sang Ngari Rinpoche và nói bằng tiếng Anh: “Ta nghĩ rằng một người đầu bếp…”, giữa chừng Ngài chuyển sang nói bằng tiếng Tây Tạng. Người em trai út của Ngài thông dịch lại: “Một người đầu bếp khi nấu một bữa ăn cho người khác, dù trong tâm không thực sự có ý định nấu cho bản thân mình, nhưng người ấy sẽ luôn được no đủ”.
“Rất nhiều đầu bếp có thân hình phốp pháp, ta để ý vậy”, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói thêm. Cả hai người họ cùng cười sảng khoái với nhận xét này.
“Vậy cơn đau của Ngài có thực sự biến mất khi nhìn thấy những con người nghèo khổ kia ở Patna?”, Tôi tò mò muốn biết.
“Không hẳn là vậy”, Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp. “Nhưng hình ảnh trong tâm trí tôi về sự nghèo đói và bệnh tật là vô cùng chân thực. Cho đến cả khi tôi đã được nằm nghỉ tại khách sạn Patna, dù đau đớn nhưng tất cả những gì tôi nghĩ đến là hai con người đó. Sự đói khát. Hình ảnh ấy chiếm trọn tâm trí tôi, và tôi tự hỏi: “Thật thương thay! Chúng ta có thể làm gì đây, làm gì bây giờ?”. Và cơn đau của tôi dịu bớt đi phần nào. Cảm giác ấy giống như sự quan tâm lo lắng đã lấn át đi cơn đau”.
