THẾ NÀO LÀ PHẬT TỬ?

Trích: Thế nào là Phật tử? Dịch: rần Tuấn Mẫn và Nguyễn Thị Tú Oanh; NXB Phương Đông; 2011.

06/05/2026
37 lượt xem

Về mặt thực hành, từ nghiệp báo (karma) đồng nghĩa với Phật giáo. Nó thường được hiểu như là một loại hệ thống đạo đức về sự đền đáp – nghiệp “xấu” và nghiệp “tốt”. Nhưng nghiệp báo đơn giản chỉ là quy luật nguyên nhân và kết quả (nhân quả) mà thôi, chứ không bị lầm lẫn với phẩm hạnh hay đạo đức học. Chẳng có ai, kể cả Đức Phật, đặt ra một loại thanh chắn để phân biệt những gì là tiêu cực hay tích cực. Bất kỳ một động cơ hay hành động nào điều khiển chúng ta ra khỏi những sự thật như là “mọi sự vật cấu thành thì vô thường” đều có thể đưa tới những hậu quả tiêu cực, hay là nghiệp xấu (ác nghiệp). Và bất kỳ một hành động nào đưa chúng ta tới gần với việc hiểu sự thật là “mọi cảm thọ đều khổ” có thể tạo ra những hậu quả tích cực, hay là nghiệp tốt (thiện nghiệp). Cuối cùng, không phải là Đức Phật phán xét, chỉ có bạn mới biết động cơ thực sự đằng sau những hành động của bạn mà thôi.

Trong một cuộc luận bàn với đệ tử Tu Bồ Đề (Subhuti), Đức Phật nói: “Những ai nhìn thấy Đức Phật như là một hình tướng và những ai nghe Đức Phật như là một âm thanh đều có kiến giải sai lầm.” 400 năm sau, đại học giả Phật học người Ấn Độ là Long Thọ (Nagarjuna) xuất hiện. Trong bộ luận nghiên cứu triết học Phật giáo nối tiếng của ngài, ngài đã dành cả một chương có tên là “Phân tích Đức Phật” (1) và kết luận rằng cuối cùng thì không hề có một vị Phật nào ở bên ngoài cả. Đến tận ngày nay, chẳng có gì khác thường khi nghe những câu nói Phật giáo như thế này: “Nếu bạn nhìn thấy ông Phật trên đường đi, hãy giết ông ta đi.” (2) Điều này dĩ nhiên có nghĩa bóng; chắc chắn người ta sẽ không giết Đức Phật. Điều đó có nghĩa là vị Phật thực sự không phải là một đấng cứu độ hiện hữu bên ngoài, bị ràng buộc bởi thời gian và không gian. Mặt khác, một người tên là Tất Đạt Đa đã xuất hiện trên trái đất này trở thành Đức Phật Cồ Đàm và bước đi khất thực với đôi chân trần trên những đường phố ở Ma Kiệt Đà (Magadha). Vị Phật ấy đã tuyên pháp, săn sóc những người bệnh tật và thăm lại cả gia đình mình ở Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu). Lý do những người Phật tử sẽ không bàn cãi về một vị Phật vật lý xuất hiện vào thế kỷ thứ V trước Công nguyên ở Ấn Độ – là vì chúng ta có những chứng liệu lịch sử rằng Ngài đã trở thành nguồn cảm hứng trong hàng thế kỷ tại Ấn Độ. Ngài là một vị thầy vĩ đại, người đầu tiên trong một dọc dài những vị thầy và những học trò có kiến thức cao. Chỉ có thế mà thôi. Tuy vậy, đối với một người truy tầm chân lý nghiêm túc thì cảm hứng là tất cả mọi sự.

Ngài Tất Đạt Đa đã sử dụng rất nhiều phương tiện thiện xảo để gây cảm hứng cho mọi người. Một ngày nọ, có một vị sư để ý thấy một vết rách trên chiếc y của Đức Phật và xin phép Đức Phật để khâu lại cho Ngài, nhưng Đức Phật từ chối. Ngài tiếp tục bước đi và khất thực với chiếc y bị rách như thế. Khi Ngài tiến tới nơi ở của một người phụ nữ nghèo khổ, các vị sư cực kỳ bối rối vì họ biết rằng người phụ nữ kia chẳng có gì để cúng dường (cho Đức Phật). Khi người phụ nữ thấy chiếc y bị rách của Ngài, bà muốn khâu lại chiếc y bằng một sợi dây nhỏ mà bà có. Ngài Tất Đạt Đa chấp nhận và tuyên bố rằng đức hạnh của bà cho phép bà có thể tái sinh trong đời sau như là một nữ hoàng ở cõi trời. Nhiều người nghe được câu chuyện đều tràn ngập cảm hứng để thể hiện lòng quảng đại của chính họ.

Trong một câu chuyện khác, Ngài Tất Đạt Đa cảnh báo một người bán thịt rằng giết súc vật là tạo nghiệp xấu. Những người bán thịt nói: “Đây là tất cả những gì tôi biết, là nghề kiểm sống của tôi”. Ngài Tất Đạt Đa bảo người bản thịt rằng ít nhất hãy hứa là không giết thịt từ lúc hoàng hôn cho tới bình minh. Ngài không thuận cho người bán thịt giết súc vật vào ban ngày, nhưng Ngài hướng dẫn người đó giảm dần những hành động xấu ác. Đây là những ví dụ về những phương tiện thiện xảo mà Đức Phật đã sử dụng để giảng pháp. Ngài không nói rằng bởi vì người phụ nữ nghèo khổ vá áo cho Ngài nên người ấy sẽ được sinh thiên, như thế Ngài là đấng thần linh. Chính sự quảng đại của bà tạo nên hạnh vận của bà.

Bạn có thế nghĩ rằng đó là sự nghịch lý. Đức Phật tự mâu thuẫn với chính mình, nói rằng Ngài không thực sự hiện hữu, rằng mọi sự vật đều là Không, và rồi lại dạy đạo đức và sự cứu rỗi. Nhưng những phương cách đó là cần thiết để không gây hoảng sợ cho những người chưa sẵn sàng tiếp nhận tính Không. Họ được an tâm và được chuẩn bị để tiếp nhận những giáo lý thật sự. Điều này giống như là nói rằng có một con rắn và vức cái cà vạt ra ngoài cửa số. Vô số những phương pháp như thế chính là con đường. Tuy nhiên, cuối cùng chính con đường đó cũng bị rời bỏ, giống như bạn rời bỏ con thuyền khi bạn đã sang bờ bên kia. Bạn phải lên bờ một khi bạn đã tới nơi. Ngay lúc đã thế hội hoàn toàn, bạn phải từ bỏ cả đạo Phật. Con đường tâm linh là một giải pháp tạm thời, một thứ giả dược được sử dụng cho tới khi tính Không được lĩnh hội.

Những lợi ích của sự hiểu biết

Bạn có thể vẫn cân nhắc: Đâu là lợi ích của việc hiểu tính Không? Bằng việc hiểu tính Không, bạn duy trì được sự trân trọng đối với tất cả những gì đang hiện hữu, nhưng không bám chấp vào ảo ảnh như thể chúng là thật và cũng không thất vọng mãi hoài như một đứa trẻ đuổi theo một cái cầu vồng. Bạn có thể nhìn thấy bản chất của các ảo ảnh và nhớ rằng ngay từ đầu chính cái tôi đã tạo ra những ảo ảnh đó. Bạn có thể vẫn bị dao động hay xúc cảm, buồn, giận, hay mê đắm, nhưng bạn có sự tự tin của một người đang ngồi trong rạp chiếu phim, có thể rời bỏ vở diễn bởi vì hiểu rõ đó chỉ là một bộ phim. Hy vọng và nỗi sợ hãi của bạn ít ra cũng đã nhạt bớt đi, giống như việc nhận ra rằng con rắn chỉ là một chiếc cà vạt.

Khi chúng ta không nhận ra tính Không, khi chúng ta không hiểu đầy đủ rằng mọi sự vật chỉ là ảo ảnh, thế giới dường như là thật, cụ thể và chắc chắn. Những hy vọng và sợ hãi của chúng ta cũng trở nên vững chắc và vì thế không thể kiểm soát được. Ví dụ, nếu bạn có niềm tin vững chắc vào gia đình, bạn luôn mong đợi cha mẹ sẽ luôn chăm sóc cho bạn. Bạn sẽ không cảm thấy như vậy về một người lạ trên phố; anh ta không có nghĩa vụ như thế. Hiểu rõ những hiện tượng hữu vi và hiểu tính Không sẽ cho phép tạo ra một số khoảng trống trong mối quan hệ. Khi bạn bắt đầu nhìn thấy nhiều kinh nghiệm, áp lực và hoàn cảnh đã hun đúc nên cha mẹ của bạn, thì sự mong đợi của bạn vào họ sẽ thay đổi, sự thất vọng của bạn giảm đi. Khi chính chúng ta trở thành cha mẹ, ngay cả một sự hiểu biết ít ỏi về sự phụ thuộc liên đới cũng làm giảm nhẹ một cách hiệu quả những mong đợi của chúng ta vào con cái, điều mà chúng có thể hiểu là tình yêu thương. Không hiểu điều đó, chúng ta có thể có những ý định tốt để thương yêu và chăm sóc cho con cái của mình, nhưng những mong đợi và đòi hỏi của chúng ta có thể trở nên quá đáng.

Tương tự như thế, hiểu được tính Không, bạn sẽ không còn hứng thú với những cái bẫy, những niềm tin mà xã hội dựng lên và phá sập – những hệ thống chính trị, khoa học và công nghệ, nền kinh tế toàn cầu, xã hội tự do, Liên Hợp Quốc. Bạn trở nên như một người lớn không còn hứng thú với những trò chơi trẻ con nữa. Trong rất nhiều năm, bạn tin tưởng vào những cơ chế đó và tin rằng chúng có thể thành công ở những chỗ mà những hệ thống cũ đã thất bại. Nhưng thế giới vẫn chưa trở nên an toàn hơn, thích thú hơn và an ninh hơn.

Điều này không có nghĩa là bạn nên lìa bỏ xã hội. Hiểu về tính Không không có nghĩa là bạn trở thành chán chường; ngược lại, bạn phát triển một cảm thức về trách nhiệm và từ bi. Nếu Jack kêu rú lên, làm loạn lên hay quát mọi người đừng có bỏ rắn vào trong căn nhà, và bạn biết rằng vì anh ta bị nhầm lẫn, bạn sẽ thông cảm với anh ta. Những người khác có thể tha thứ như thế, vì thế bạn cố gắng bật đèn lên, vì lợi ích của Jack. Ở bình diện rộng hơn, bạn vẫn sẽ đấu tranh vì quyền cá nhân của mình, nắm giữ công việc, năng động và tích cực trong hệ thống chính trị của mình; nhưng khi tình hình thay đổi, dù là có lợi hay bất lợi cho bạn, bạn đã được chuẩn bị rồi. Bạn không mù quáng tin rằng mọi thứ bạn mong muốn và chờ đợi đều thành hiện thực, và bạn không bị mắc kẹt vào kết quả cuối cùng.

Nhiều người trong chúng ta thường cam chịu sự ngu tối. Chúng ta không thể nhìn thấy những ảo ảnh tạo nên cuộc sống hàng ngày của mình bởi vì chúng ta không có dũng cảm phá bỏ cái mạng lưới mà chúng ta bị nhét vào trong đó. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang, hay sớm sẽ, được thuận lợi đủ để tiếp tục tình trạng như hiện nay. Điều này như thể là chúng ta đang đi vào một mê cung, thông qua đó có sẵn một lộ trình quen thuộc, và không muốn khám phá những hướng đi khác. Chúng ta không dám mạo hiểm vì chúng ta nghĩ rằng chúng ta có quá nhiều thứ để mất. Chúng ta lo sợ rằng nếu chúng ta nhìn thể giới từ cái nhìn của tính Không, chúng ta có thể bị loại khỏi xã hội, mất hết trách nhiệm của mình và cùng với điều ấy, chúng ta mất bạn bè, gia đình và công việc. Sự quyến rũ của thế giới huyền giả chẳng giúp được gì; nó bị gói bọc quá kỹ. Chúng ta bị dội bom bởi những thông điệp về loại xà bông làm cho chúng ta thơm như thiên đường, rằng chế độ ăn kiêng South Beach Diet (3) thật là kỳ diệu, rằng dân chủ là thể chế chính trị tuyệt vời nhất, rằng những loại Vitamin sẽ tăng cường sức bền của chúng ta thật là công hiệu. Chúng ta hiếm khi lắng nghe hơn một mặt của sự thật, và trong những dịp hiếm hoi mà chúng ta làm thế thì cũng thường mù mờ.

Giống như đứa trẻ trong rạp chiếu phim, chúng ta bị trói buộc trong giả cảnh, từ đó dẫn tới đủ thứ phù phiếm, tham vọng và bất an. Chúng ta yêu những ảo tưởng do chính mình tạo ra và phát triển sự tự hào quá đáng về vẻ bề ngoài, tài sản và cả những thành tích của chúng ta. Điều ấy giống như là mang một chiếc mặt nạ và tự hào nghĩ rằng mặt nạ đó chính là mình.

Có một đàn khỉ chừng 500 con và có một con trong số đó nghĩ mình rất thông minh. Một đêm con khỉ đó nhìn thấy bóng trăng trong hồ. Nó tự hào thông báo cho cả đàn: “Nếu chúng ta đi tới hồ và nhặt trăng thì chúng ta sẽ trở thành những người anh hùng đã cứu được mặt trăng”. Lúc đầu những con khi khác không tin nó. Nhưng khi chúng tận mắt nhìn thấy mặt trăng đã bị rơi vào trong hồ, chúng quyết định sẽ cố cứu mặt trăng. Chúng trèo lên một cái cây và con nọ nắm đuôi của con kia sao cho chúng có thể tiến gần tới chỗ mặt trăng lung linh. Ngay khi con khỉ cuối cùng sắp nắm được mặt trăng, cành cây bị gãy và tất cả chúng đều bị rơi xuống hồ. Chúng không biết bơi và tất cả đều vẫy vùng dưới nước trong khi hình ảnh của ánh trăng tung tóe trong những con sóng. Bị thúc đẩy bởi sự khát khao danh vọng và sự độc đáo, chúng ta cũng giống như những chú khỉ kia, nghĩ rằng chúng ta thành thạo trong việc khám phá ra các sự vật và thuyết phục các đồng bạn thấy những gì chúng ta thấy, nghĩ những gì chúng ta nghĩ, và bị thúc đầy bởi tham vọng làm vị cứu tinh, người thành thạo, người trông thấy mọi sự, vị thần cứu tinh, người thông minh hơn, người tạo ra tương lai của tất cả. Chúng ta có đủ loại tham vọng nho nhỏ, như là tạo ấn tượng với một cô gái hay những tham vọng lớn như đổ bộ vào sao Hỏa. Và dần dà chúng ta kết thúc trong nước mà chẳng nắm víu được vào đâu và thậm chí còn chẳng biết cách nào để bơi.

Khi đã hiểu được tính Không, Ngài Tất Đạt Đa không hể có sự chọn lựa nên nằm trên đám cỏ kusha dưới cội bổ để hay nên nằm trên gối nệm lụa là trong cung diện. Những giá trị cao hơn đặt vào những chiếc gối được khâu bằng những sợi chỉ vàng được tạo ra bởi mong ước và tham vọng của con người. Thực ra, một vị ẩn tu trong núi có thế nhận thấy đám cỏ kusha thì mềm, sạch và tốt nhất, nếu nó có bị hư nát thì chẳng có gì phải lo lắng cả. Bạn không phun thuốc vào nó để ngăn chặn bọn mèo của bạn cào nó. Cuộc sống nơi cung điện đầy rẫy những thứ “quý giá” cần phải gìn giữ. Nhưng nếu buộc phải lựa chọn, Ngài Tất Đạt Đa sẽ chọn những tấm đệm cỏ để Ngài không phải cất công giữ gìn.

Con người chúng ta coi có tâm trí khoáng đạt là một đức tính cao quý. Để mở rộng tâm trí của mình, điều quan trọng là chúng ta không chỉ bó hẹp mình trong những gì thuận lợi và quen thuộc với mình. Điều đó có ích cho chúng ta nếu chúng ta có can đảm vượt ra khỏi những chuẩn mực và không mắc kẹt trong những giới hạn thông thường của luận lý. Nếu có thể đi xa hơn những giới hạn, chúng ta sẽ sớm nhận ra tính Không đơn giản đến buồn cười. Sự kiện ngài Milarepa có thể trú ẩn trong chiếc sừng bò sẽ chẳng đáng ngạc nhiên hơn ai đó xỏ tay vào một đôi găng tay. Thách thức nằm trong sự bám chấp của chúng ta trong việc sử dụng luận lý, ngữ pháp, bảng chữ cái và những phương trình số học cũ kĩ. Nếu chúng ta có thể nhớ tới bản chất hữu vi [được cấu thành] của những thói quen đó, chúng ta có thể đi tắt qua chúng. Chúng không thể bị phá bỏ (những thói quen này không thể bị phá bỏ ngay được, ta phải đi vào đó thôi, nhưng chúng ta sẽ cố đi tắt, sẽ không phải ở lâu với chúng). Tất cả những gì cần là có được một vị thế khi những điều kiện đúng một cách chính xác và một mẩu thông tin kịp thời; sau đó bạn sẽ đột nhiên nhận ra tất cả những dụng cụ mà bạn tin cậy là không vững chắc – chúng mềm dẻo và có thể uốn cong được. Quan điểm của bạn sẽ thay đổi. Nếu có ai đó mà bạn tin cậy nói với bạn rằng người vợ mà bấy lâu bạn tức giận thực ra là một nữ thần thịnh vượng giả dạng, thì sau đó cách nhìn nhận của bạn về cô ấy hoàn toàn thay đổi. Tương tự như thế, nếu bạn đang thưởng thức món bít tết ngon lành với đủ loại nước sốt trong một nhà hàng sang trọng, trong khi thưởng thức từng miếng thì ông chủ nhà hàng nói với bạn rằng đó thực ra là thịt người, thì ngay lập tức kinh nghiệm đó sẽ thay đổi 180 độ. Khái niệm về sự ngon miệng lập tức biến thành khái niệm của sự phẫn uất.

Nếu bạn thức dậy sau một giấc mơ về 500 con voi, bạn chẳng hề bối rối chút nào về cách làm sao chừng ấy con voi lại chiếm vừa căn phòng của bạn bởi vì chúng không hiện hữu trước, trong và sau giấc mơ. Một ngày kia chúng ta sẽ nhận ra, không phải bằng trí óc, rằng chẳng có thứ gì là “lớn”, “nhỏ” hay “được”, “mất”, rằng mọi sự vật đều là tương đối. Sau đó chúng ta sẽ có thể hiểu cách nào mà Milarepa có thể chui vào trong sừng bò và tại sao một tên bạo chúa như vua A Dục lại có thể cúi đầu và tuân phục sự thật này.