SỰ HỌC TRỌN ĐỜI VÀ BỐN GIAI ĐOẠN CUỘC ĐỜI

Trích : Giáo Dục Phật Giáo – Con Đường Chuyển Hoá Toàn Diện; Đăng ngày 04-05-2008 trên Thư Viện Hoa Sen.

29/06/2026
8 lượt xem

Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục Liên Hiệp Quốc) đề ra quan niệm sự học trọn đời. Dĩ nhiên, người ta phải học để có một nghề nghiệp, nhưng ngoài việc học chuyên môn ấy, người ta còn phải học để nâng cao toàn diện con người mình. Việc học để hoàn thiện con người mình là việc học trọn đời.

Học, nghĩa là khám phá đời sống ngoài mình và trong mình, về cả hai mặt vật chất và tâm linh. Cái duy nhất ngăn không cho chúng ta khám phá, thấy được thực tại chính là những cái do chúng ta tạo ra: chấp ngã và chấp pháp. Chính chúng ta tự thắt gút trong tâm để làm chật hẹp và trói buộc mình. Và bởi vì chúng ta đã tạo ra những che chướng, chúng ta hãy tự mình gỡ bỏ chúng. Học, là gỡ bỏ để khám phá, khám phá để gỡ bỏ. Gỡ bỏ đến đâu thì có tự do đến đó, khám phá đến đâu thì có sự hiểu biết, thưởng thức đến đó.

Với truyền thống Ấn Độ, đời người được chia làm bốn giai đoạn để học đạo. Với Trung Hoa, cuộc đời cũng như bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Sau đây chúng ta áp dụng các giai đoạn đó vào một đời sống Phật giáo:

1- Giai đoạn đầu tiên, tương ứng với mùa Xuân, từ khoảng 10 tuổi đến khi lập gia đình. Học để thành một con người xã hội, biết lễ phép, đối xử, những kỹ năng làm người, học nghề, bổn phận, trách nhiệm, lòng nhân ái, có hiếu… Đồng thời với cái học xã hội là học đạo: luật Nhân quả, các giới luật căn bản, niềm tin vào Tam bảo, biết phát khởi lòng từ bi và Bồ đề tâm, biết sống theo hạnh lợi mình lợi người. Học để biết chính mình, cả mặt lý thuyết và thực hành: con người mình là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hay danh sắc. Năm uẩn này thì không bền vững, vô thường; không có một chủ tể mà do duyên sanh, nên vô ngã; và chấp chặt lấy chúng thì khổ. Đây là chân lý tương đối, thế đế. Đồng thời cũng tin và mơ hồ cảm nhận có cái gì vượt khỏi danh sắc, giải thoát khỏi danh sắc, cái này là chân lý tuyệt đối. Theo kinh Lăng Nghiêm, đây là việc biết phân biệt cái gì là sanh diệt, cái gì là không sanh diệt. Biết sống theo hạnh (tức là tập tành sáu Ba la mật), với Trí tuệ Ba la mật là chủ đạo: làm việc tốt mà không có người làm, người nhận hành động và việc làm. Như vậy biết phước huệ song tu là gì.

2- Giai đoạn thứ hai, mùa Hạ, giai đoạn xã hội, vào đời. Trở thành một người chủ gia đình, biết hướng dẫn gia đình mình trong vài nghi thức tôn giáo căn bản, chăm sóc giữ gìn sự thanh tịnh và đạo đức cho gia đình. Có một lối sống tích cực, tham gia vào thế giới vật chất nhưng không bỏ quên thế giới tâm linh, bằng cách thực hành pháp đã học và ứng dụng, chuyển hóa pháp vào đời. Đây là giai đoạn phụng sự xã hội, cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Thực hành mạnh mẽ phước đức và trí huệ song tu. Tóm lại là thâm nhập sâu hơn vào thế giới ở cả mặt vật chất bề ngoài (tướng) lẫn phần thể tánh bên trong (tánh).

Ý nghĩa của đời sống không do ai ban cho ta cả. Ý nghĩa của đời sống chỉ hiện hình khi chúng ta sống theo pháp, sống đúng pháp. Ý nghĩa của đời sống hiển lộ trong sự tự thực hiện, tự thể hiện (to self-realize) của mỗi người chúng ta.”

3- Giai đoạn thứ ba, mùa Thu cuộc đời, từ khoảng 60 tuổi. Giai đoạn gần như đã xong việc đời, về hưu. Mùa Thu là mùa của sự chín, sự thu hoạch: những kinh nghiệm và phẩm chất của cuộc sống thế gian và tâm linh bước vào giai đoạn thuần thục, trưởng thành, chín muồi. Sự hài hòa giữa đời và đạo, giữa năm uẩn và tánh Không (hay một phương pháp thực hành nào khác) càng trở nên mạnh mẽ. Sự lợi mình lợi người càng thêm sâu sắc, hiệu quả. Về mặt tâm linh, cái “không sanh diệt”, cái vượt khỏi danh (tâm) và sắc (vật) lộ diện khá rõ ràng. Nói cách khác, sự thật “Sắc tức thị Không” càng rõ ràng hơn giai đoạn trước, để trở thành chính sự sống (huệ mạng) của mình. Chân lý tuyệt đối hầu như bao trùm và chuyển hóa chân lý tương đối.

4- Giai đoạn thứ tư, mùa Đông cuộc đời. Người ta rút lui hoàn toàn để chuẩn bị cho cái chết và đời sau. Người ta đạt đến mức độ tâm linh đủ để đối mặt với cái chết, đủ sức từ bỏ thân tâm thế gian (chân lý tương đối, quy ước) và vượt qua cái chết. Ở mức độ lý tưởng, người ta được tự do, hoặc bỏ hẳn cuộc sống trần thế (ba cõi), hoặc đi đến một cõi Phật, hoặc chọn lựa một hình thái sống thích hợp ở đời sau nhằm tiếp tục đem lợi lạc cho người khác. Đây là giai đoạn chân lý tuyệt đối có thể dứt bỏ được, không nương nhờ vào chân lý tương đối, hoàn toàn đứng độc lập một mình. Một cách diễn tả khác là chân lý tuyệt đối thu lại chân lý tương đối và làm tiêu dung chân lý tương đối.

Như vậy, qua bốn giai đoạn, người ta hoàn thành cuộc đời mình. Nếu được sự hướng dẫn của một hay các vị thầy, sự đồng hành của các bạn đạo thì có thể nói đó là một cuộc đời an toàn và đầy đủ ý nghĩa.