SỰ VUI THÚ

TRÍCH: ĐỪNG LỰA CHỌN AN NHÀN KHI CÒN TRẺ ; Người Dịch: BẢO ÂN; NXB: LAO ĐỘNG

16/09/2026
17 lượt xem

Trong quá trình theo đuổi các hình thức của đời sống trí tuệ, chúng ta đã phân biệt giữa hoạt động thực dụng (công cụ để đạt được mục tiêu) và bản thân mục tiêu.

 

Chúng ta cũng bắt đầu xét đến cách một mục tiêu tối thượng định hình nên cuộc sống của chúng ta, và định hướng cho các mục tiêu còn lại. Vậy, chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta định hướng cuộc sống của mình bằng các hoạt động thực dụng thuần túy, như kiếm tiền chẳng hạn? Triết gia Aristotle đã nhận định rằng ta cần theo đuổi mục tiêu tối thượng vì bản chất của nó, bằng không hành động của chúng ta sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Giả dụ hôm nay tôi muốn đi bơi. Tôi sửa soạn đồ xong xuôi, đi giày, lấy chìa khóa và lái xe cả một đoạn đường dài, tới nơi thì hồ bơi đóng cửa. Như vậy, tôi đã không đạt được mục tiêu đi bơi của mình, và mọi cố gắng kể trên đều vô nghĩa. Vậy nếu hồ bơi có mở cửa và tôi vẫn được đi bơi, câu hỏi đặt ra là: Tại sao tôi lại làm việc đó? Tôi đi bơi vì muốn có được sức khỏe, tôi cần khỏe mạnh để có thể làm việc, và tôi làm việc để kiếm tiền. Và tiền sẽ giúp tôi có được đồ ăn, thức uống, nhà cửa, phương tiện giải trí và tập luyện – tất cả những thứ này sẽ giúp tôi sống tốt để làm việc tiếp.

 

Tôi vừa mới mô tả một cuộc sống hoàn toàn vô nghĩa. Nếu tôi làm việc chỉ vì tiền, chi tiêu cho những nhu cầu cơ bản nhất, và tổ chức cuộc sống xoay quanh công việc, như vậy đời tôi sẽ chỉ là những vòng xoay công việc không có ý nghĩa. Bởi vậy, Aristotle nhận định rằng chúng ta cần đạt được sự vui thú trong công việc, bằng không công việc của chúng ta sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Sự vui thú không chỉ là những hình thức giải trí giúp chúng ta nghỉ ngơi, lấy lại sức lao động. Ngược lại, sự vui thú là một khoảng không gian nội tâm, là thành quả cuối cùng có được nhờ tất cả những nỗ lực của chúng ta. Đối với Aristotle, chỉ có sự chiêm nghiệm – ngắm nhìn, thấu hiểu và tận hưởng thế giới theo đúng bản chất của nó mới là sự vui thú chân chính nhất.

 

Để đạt được sự vui thú đóng vai trò là mục tiêu tối thượng cho đời người, ta không cần đến những căn biệt thự sang trọng hay đời sống thượng lưu. Sự vui thú đó hiện diện ngay trong từng khoảnh khắc, hay khi ta chậm lại một chút giữa đời vội vã. Sự vui thú cũng có thể song hành với những công việc chân tay nặng nhọc. Một phong trào viết sách từng định hình nên nền văn hóa trí thức của nước Mỹ đã khởi đầu từ giai cấp công nhân, họ hướng tới phát triển bản thân thành những con người có đời sống nội tâm phong phú.

 

Trong cuốn sách hướng dẫn kinh điển dành cho các học giả nghiệp dư, The Intellectual Life (tạm dịch: Đời sống trí tuệ), linh mục dòng Đa-minh, A. G. Sertillanges, nhận định rằng mỗi ngày, chúng ta có thể dành ra hai tiếng thời gian rảnh để theo đuổi tri thức – cân bằng được với cả công việc và đời sống gia đình. Một tác giả cùng thời khác là Arnold Bennett đưa ra nhận định sau trong cuốn How to Live on 24 Hours a Day (tạm dịch: Sống trọn vẹn 24 giờ mỗi ngày): “Để theo đuổi đời sống trí tuệ, chúng ta chỉ cần dành nửa giờ mỗi ngày để tập trung tư duy, đồng thời dành ra ba buổi tối mỗi tuần, mỗi buổi tập trung đọc sách trong 90 phút”. Tôi nghĩ cha Sertillanges và tác giả Bennett nói đúng – và thậm chí vượt ngoài sức tưởng tượng của họ, mỗi người chúng ta hoàn toàn có thể lấy sự vui thú làm mục tiêu mà không cần dành toàn bộ thời gian của mình để theo đuổi tri thức. Chúng ta có thể tận hưởng sự vui thú trong từng phút giây, trong những khoảnh khắc chậm lại một nhịp, hay khi thư thái ngẫm lại những gì đã xảy ra trong ngày. Một buổi dã ngoại cuối tuần sẽ cho phép những kiến thức, trải nghiệm ta tích lũy được trong cuộc sống hàng ngày có cơ hội bừng nở. Bất chấp những định kiến đã lỗi thời, công việc chân tay có khả năng giải phóng tâm trí ta để có thể suy ngẫm thật sâu sắc, trong khi những hình thức lao động khác không làm được. Đó là lý do tại sao những công việc như đóng đồ gỗ, làm vườn hay dọn nhà lại mang đến cảm giác hài lòng hơn hẳn việc đánh dấu tích vào mấy ô vuông, cho giấy vào máy in, hay suy nghĩ về những vấn đề vụn vặt nhưng khó giải quyết.

 

Như vậy, trong một số hoàn cảnh cụ thể, sự vui thú không tồn tại, và ta không thể sử dụng nó. Việc mưu cầu những nhu yếu phẩm cho cuộc sống hàng ngày thường sẽ khá áp lực. Điều này còn đúng hơn nữa nếu tác phẩm Martin Eden, văn hào Jack London đã miêu tả ta phải làm việc trong một môi trường bất công. Trong nhân vật chính Martin là người không ngừng nỗ lực tự giáo dục chính mình, vừa để giúp ích cho bản thân, vừa để tán đổ cô nàng anh ta yêu. Một thời gian sau, anh tiêu hết sạch tiền. Anh bèn xin làm ở cửa tiệm giặt là, yêu cầu làm việc 14 tiếng mỗi ngày, sáu ngày một tuần. Vốn đã quen với vất vả, anh tự tin rằng khi nhận công việc này, mình sẽ vẫn còn thời gian để đọc sách. Thế nhưng sau một ngày ở tiệm giặt là, khả năng tập trung của anh đã tan thành mây khói. Sau một tuần, anh cạn kiệt năng lượng và nghĩ rằng: “Trong não anh không còn có chỗ cho thế giới ngoài kia và những vấn đề lớn lao của nó. Tất cả những dãy hành lang từng rộng mở trong tâm hồn anh giờ đây đã hoàn toàn bị phong tỏa.” Sau ba tuần như vậy, Martin bắt đầu uống rượu trở lại, và trong cơn say, anh thấy lại được óc tưởng tượng, sự ấm áp, điều kỳ diệu, và vẻ đẹp mà công việc ở tiệm giặt là đã cướp khỏi tay anh.

 

Tất nhiên câu chuyện của Jack London vẫn có một nửa là hư cấu, song nó lại giống với trải nghiệm đời thực của những người khác. Chẳng hạn, văn hào George Orwell từng viết về quãng thời gian làm việc của mình tại bộ phận bếp của một khách sạn ở Paris. Tại đó, những nhân viên cùng cấp bậc với ông phải làm việc từ 80 đến 100 giờ mỗi tuần, không còn thời gian để suy nghĩ về điều gì, cũng như không thể để tâm đến những bước tiến tiếp theo trong sự nghiệp. Họ lãng phí đời mình trong lao lực và chỉ biết trốn tránh vào những chén rượu và giấc ngủ.

 

Tác giả và nhà hoạt động chính trị người Mỹ, Barbara Ehrenreich, mô tả lại trải nghiệm của mình sau hai ca làm phục vụ bàn như sau: “Tôi không hề cảm thấy mệt mỏi, tôi cứ tự động viên mình như vậy, song có lẽ bản thân cái tôi trong tôi cũng đã cạn kiệt, không còn đủ sức để theo dõi sự mệt mỏi nữa.” Hay có thể lắng nghe nhà báo James Bloodworth kể về một ngày làm nhân viên lấy hàng ở nhà kho của Amazon. Sau nhiều ngày phải chạy vòng quanh nhà kho suốt nhiều giờ, chịu sự giám sát nghiêm ngặt qua các thiết bị điện tử, bị phạt nếu đi vệ sinh giữa giờ hay nghỉ ốm, lịch làm việc liên tục thay đổi với những lần hủy ca và làm thêm giờ bắt buộc, Bloodworth cảm thấy mình kiệt sức cả về thể chất lẫn tinh thần. Những cơn cuồng say mà anh và đồng nghiệp vốn luôn né tránh, giờ đây lại trở nên vô cùng hấp dẫn. Như một đồng nghiệp của anh nói: “Công việc này sẽ khiến anh thèm hơi men.”

 

Sự vui thú có thể bị hủy hoại khi bạn phải làm việc trong một môi trường quá tệ, hay phải lo lắng quá nhiều, hoặc phải lặp đi lặp lại những thao tác khiến bạn nhanh chóng kiệt sức. Sự vui thú cũng có thể bị hủy hoại do chính lựa chọn của bạn. Theo lời triết gia Socrates, thầy của Aristotle là Plato mô tả niềm vui thú theo góc nhìn Triết học trái ngược với trải nghiệm của một luật sư ở tòa án. Đối với một triết gia – một người luôn có sự vui thú – thì mọi việc được nhìn nhận như sau: “Không quan trọng họ nói về điều gì trong một ngày hay một năm, chỉ cần họ được thoải mái nói những gì mình muốn. Còn người luật sư ở tòa án thì lại luôn vội vã, vừa nói vừa nhìn đồng hồ. Hơn nữa, anh ta không được nói về những đề tài mình thích; luật sư của đối phương đã chuẩn bị sẵn từng chi tiết để đối phó với anh.”