PHẨM HẠNH VÀ XÃ HỘI

Trích: Đạo Kỷ Nguyên Mới/ Dalai Lama; Lê Tuyên dịch. NXB Đồng Nai, 2011.

22/10/2026
29 lượt xem
H.H Dalai Lama
🍀Thế Giới Tự Nhiên

Nếu có một vấn đề mà cả giáo dục lẫn hệ thống truyền thông đều phải có trách nhiệm đặc biệt thì tôi tin rằng đó chính là vấn đề môi trường tự nhiên của chúng ta. Một lần nữa, vấn đề ở đây dường như không phải là việc đúng hay sai mà vấn đề ở đây là sự sống còn của nhân loại. Thế giới thiên nhiên chính là ngôi nhà của tất cả mọi người chúng ta. Nó không phải là một cái gì đó thiêng liêng hay thần thánh, nó đơn giản là nơi mà chúng ta sinh sống trong đó. Thế nên, chúng ta cần phải quan tâm đến việc bảo vệ nó. Đây là một vấn đề rất phổ biến. Nhưng mãi cho đến gần đây thì sức mạnh của khoa học kỹ thuật mới có thể đạt được đến mức độ mà người ta có thể tác động trực tiếp đến tự nhiên. Khi chúng ta áp dụng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực – và điều này tác động trực tiếp đến môi trường tự nhiên thì cho đến nay, trái đất vẫn đang còn có thể chấp nhận được tất cả những tác động xấu mà nhân loại gây ra cho nó. Và rồi cũng sẽ đến lúc trái đất không thể chịu được thái độ hành xử tùy tiện của nhân loại trong im lặng được nữa. Sự thoái hóa về môi trường chính là phản ứng của trái đất đối với lối hành xử sai lầm của chúng ta. Trái đất đang cảnh cáo chúng ta rằng lòng khoan dung chịu đựng của nó luôn có giới hạn.

Chẳng có gì là quá cường điệu khi tôi nói rằng Tây Tạng, nơi tôi đã được sinh ra và lớn lên là một thiên đường cho động vật hoang dã. Mọi khách du lịch đến thăm Tây Tạng vào khoảng thời gian trước thế kỷ hai mươi đều sửng sốt về điều này. Ở đó, người ta rất hiếm khi nào săn bắt động vật, ngoại trừ tại những khu vực xa xôi hẻo lánh, nơi mà người ta không thể cày cấy gì được. Thực ra, ngày ấy chính phủ thường xuyên công bố trước công chúng về tầm quan trọng của việc bảo vệ thế giới hoang dã bằng câu nói rằng “Không ai, dù ở bất kỳ địa vị nào, được phép xâm phạm và gây hại cho các sinh vật hoang dã”. Trường hợp ngoại lệ ở đây chỉ là chuột và chó sói.

Tôi nhớ rằng khi còn trẻ tôi vẫn thường trông thấy rất nhiều chủng loài động vật hoang dã khác nhau ở Lhasa mỗi khi tôi đi ra ngoài. Kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi chính là chuyến đi kéo dài ba tháng băng qua Tây Tạng, xuất phát từ nơi tôi được chào đời là Takster ở miền Đông Lhasa. Chính tại nơi đây người ta đã tuyên bố rằng tôi chính là Dalai Lama XIV khi tôi còn là một cậu bé bốn tuổi. Khi ấy tôi được trông thấy những bầy lừa và bò rừng thong dong đi lại tại các khu vực đồng bằng. Thỉnh thoảng, tôi có thể trông thấy từng bầy linh dương gazen và nai môi trắng băng qua đường. Tôi cũng nhớ rõ rằng chúng có thể dừng lại và tỏ ra thân thiện một chút với con người. Tôi thích ngắm nhìn cảnh những con chim đại bàng bay vút lên và đậu trên chóp cao của các tu viện.

Thậm chí tại Lhasa, người ta vẫn có thể cảm nhận rằng mình đang sống cùng thế giới hoang dã. Tại phòng của tôi ở dinh thự Potala, tôi trải qua hàng giờ như một đứa trẻ nhìn ngắm những chú diều hâu đang làm tổ trên góc tường, tôi cũng thường trông thấy một cặp sếu lông đen sinh sống tại vùng đầm lầy gần đó. Thật đáng buồn là sự đa dạng của thế giới hoang dã đã không còn nữa. Một phần do việc săn bắn bừa bãi, một phần do mất nơi cư ngụ thích hợp. Tất cả những người Tây Tạng mà tôi đã có dịp trao đổi, họ quay trở về Tây Tạng sau ba mươi năm hoặc bốn mươi năm xa quê hương, đều phàn nàn về sự biến mất đột ngột của đời sống hoang dã. Trong khi trước đây động vật hoang dã thường lân la gần nhà người dân, ngày nay dường như chúng đã biến mất hoàn toàn.

Ngoài ra, các khu rừng ở Tây Tạng đã bị phá hủy. Trước đây, cây cối mọc um tùm trên những ngọn đồi; ngày nay, chúng đã bị cạo trọc giống như đầu của các sư thầy. Chính phủ đã thừa nhận rằng các trận bão lụt lớn một phần là do bởi sự biến mất của những khu rừng này. Cho đến nay tôi vẫn liên tục nghe nói về nạn phá rừng để lấy gỗ kinh doanh. Đây thực sự là một thảm kịch khiến cho khí hậu ở đây ngày càng khắc nghiệt hơn. Điều này có nghĩa là nhân loại chúng ta cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến việc tái tạo rừng. Thật đáng tiếc, việc tái tạo rừng vẫn chưa được mọi người quan tâm đúng mực.

Tất cả những điều này đều không có nghĩa những người Tây Tạng chúng tôi là “những người bảo vệ môi trường”. Không phải thế. Trước đây, những gì được gọi là “sự ô nhiễm” dường như chẳng bao giờ xảy ra với chúng tôi. Một phần lớn dân số Tây Tạng cư ngụ tại một khu vực rộng lớn với không khí trong lành và nguồn nước tinh khiết. Giống như một đứa trẻ, bất luận chúng ta có làm gì thì Bà Mẹ Trái Đất vẫn sẵn sàng khoan dung tha thứ mọi thái độ hành xử của chúng ta. Kết quả là chúng ta chẳng ý thức được gì về vấn đề sạch sẽ và vệ sinh môi trường. Người ta sẵn sàng khạc nhổ khắp mọi nơi trên đường phố mà chẳng hề mảy may suy nghĩ gì cả.

Điều quan trọng là chúng ta cần phải tìm ra một phương thức sản xuất nào đó không gây hại cho môi trường thiên nhiên. Chúng ta cần phải tìm cách giảm bớt nhu cầu sử dụng gỗ rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Tôi không phải là một chuyên gia trong lĩnh vực này và tôi không thể đề nghị cách thực thi việc này. Tôi chỉ biết rằng chúng ta có thể, miễn là chúng ta có đủ quyết tâm. Ví dụ, tôi nhớ rằng trong một dịp nọ đến thăm thành phố Stockholm cách đây vài năm, lần đầu tiên tôi được nghe nói đến việc người ta thả cá ra những dòng sông trong thành phố. Cho đến gần đây, người ta không còn làm việc đó nữa do bởi các dòng sông trong thành phố đã bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tương tự, trong một lần đến thăm Đức, người ta đã trình bày một nền công nghiệp phát triển không gây ô nhiễm môi trường. Rõ ràng là các giải pháp được đề ra nhằm giảm thiểu tác hại đối với môi trường tự nhiên chứ không phải là nhằm cải thiện lại môi trường, trả nó trở lại tình trạng nguyên thủy.

Điều này không có nghĩa là tôi tin rằng chúng ta có thể dựa vào các kỹ thuật hiện đại để giải quyết tất cả mọi khó khăn rắc rối của chúng ta. Tôi cũng không tin rằng chúng ta có thể tiếp tục đủ khả năng để dự báo được những hậu quả có thể xảy ra từ sự ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, điều quan trọng ở đây không phải là việc cải thiện môi trường, mà chính là việc thay đổi thái độ của chúng ta trong mối quan hệ với môi trường.

Thật may mắn là ngày càng có nhiều người ý thức rõ được tầm quan trọng của lối hành xử hợp lý nhằm đảm bảo được một môi trường lành mạnh để nhân loại có thể sống mạnh khỏe. Vì thế tôi rất lạc quan tin tưởng rằng thảm họa này rồi đây sẽ được ngăn chặn. Mãi cho đến gần đây, một người đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến tác động của các hoạt động của con người lên hành tinh của chúng ta. Hơn nữa, không khí mà chúng ta hít thở, nguồn nước mà chúng ta uống, rừng núi và đại dương nuôi dưỡng hàng ngàn chủng loài thực vật và động vật khác nhau, tất cả đều đang được mọi người thể hiện sự quan tâm bảo vệ, đây là một nguồn hy vọng cho chúng ta. Điều này có nghĩa là tất cả mọi quốc gia, bất luận giàu hay nghèo, đều có thể tập trung quan tâm đến việc gìn giữ môi trường.

Sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và hậu quả là thiên tai liên tục xảy ra gợi nhắc chúng ta rằng tất cả những hậu quả này đều là do nhân loại chúng ta gây nên. Và trong khi hoạt động của một cá nhân có thể chẳng tạo ra tác động gì to lớn đến môi trường nhưng hoạt động của hàng tỉ sinh linh sống trên trái đất này rõ ràng là có. Điều này có nghĩa là đã đến lúc tất cả những ai đang sinh sống tại các quốc gia có nền công nghiệp phát triển cần phải cân nhắc đến việc thay đổi lối sống của mình. Một lần nữa, đây không phải là một vấn đề đạo đức. Cái giá mà nhân loại phải trả cho hành vi phá hủy môi trường thật khó có thể hình dung được.

 

🍀Chính Trị Và Kinh Tế

Tất cả mọi người chúng ta đều mơ đến một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng nếu chúng ta muốn đảm bảo rằng giấc mơ đó sẽ trở thành sự thật thì chúng ta cần phải đảm bảo rằng lòng từ bi luôn thấm đẫm trong mọi hành vi của chúng ta. Điều này đặc biệt rất đúng trong phạm vi các chính sách kinh tế và chính trị của chúng ta. Giả sử một nửa dân số thế giới đang sống trong cảnh thiếu thốn các nhu yếu phẩm chẳng hạn như thức ăn, nơi trú ngụ, thuốc men và giáo dục thì tôi tin rằng chúng ta cần phải đặt câu hỏi xem liệu chúng ta đã thực sự quan tâm đến vấn đề này một cách sáng suốt hay chưa. Tôi nghĩ là chưa. Nếu chúng ta thực sự quan tâm đúng mực đến vấn đề này thì có lẽ trong vòng năm mươi năm nữa chúng ta có thể đẩy lùi sự nghèo đói trên thế giới này. Tuy nhiên, ngược lại, nếu những gì đang diễn ra vẫn không được thay đổi thì rõ ràng là người nghèo sẽ càng thêm nghèo. Phẩm chất công bằng cơ bản của con người không cho phép chúng ta hài lòng với sự thật bất công này và để cho nó tiếp tục tồn tại.

Dĩ nhiên, tôi không hiểu biết nhiều lắm về lĩnh vực kinh tế. Nhưng tôi nhận thấy rằng thật khó có thể chịu được sự thật rằng tài sản của người giàu vẫn được giữ bo bo trong khi đồng loại của mình đang chịu cảnh chết đói ở một số nơi, đặc biệt là khoản nợ của các quốc gia nghèo. Khi nói những lời này, tôi không có ý muốn đề nghị rằng các quốc gia chưa phát triển hoàn toàn không có trách nhiệm gì đối với những khó khăn rắc rối của chính mình đâu nhé. Chúng ta cũng không thể đổ hết lỗi lầm ở đây cho các chính trị gia hay cho ngoại cảnh. Nhưng có một sự thật nếu các chính trị gia bị mua chuộc hối lộ thì đời sống xã hội tại quốc gia đó có xu hướng trở nên sa đọa và mỗi thành viên của quốc gia đó cũng khó có thể sống một đời nhân đức. Trong những trường hợp đó, các cử tri cũng khó có thể chỉ trích được các chính trị gia của mình. Ngược lại, khi mọi người sở hữu được các phẩm hạnh lành mạnh và tại những quốc gia mà phẩm hạnh, sự quan tâm lẫn nhau được đặt lên hàng đầu thì các quan chức và các chính trị gia của quốc gia đó tự nhiên cũng quan tâm đến cùng những giá trị tốt đẹp như thế. Mỗi người trong chúng ta vì thế đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra một xã hội công bằng, bình đẳng, biết quan tâm lẫn nhau, dựa trên nền tảng là sự cảm thông sâu sắc.

Chỉ khi nào người ta áp dụng các nguyên tắc phẩm hạnh vào chính sách kinh tế thì mọi hoạt động của nhân loại mới có thể trở nên tốt đẹp hơn. Và ý thức về trách nhiệm chung của toàn cầu là yếu tố đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận rằng sẽ là một việc khá khó khăn nếu chúng ta muốn áp dụng những lời đề nghị về các giá trị phẩm hạnh này vào lĩnh vực kinh doanh. Sở dĩ như thế bởi vì trong thế giới kinh doanh người ta luôn đánh giá cao sự cạnh tranh lẫn nhau. Vì lý do này, mối quan hệ giữa lòng cảm thông và lợi nhuận là một mối quan hệ rất mong manh. Tuy nhiên, tôi vẫn không trả lời được câu hỏi tại sao chúng ta không thể có được lối cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh. Yếu tố quan trọng ở đây chính là động cơ thúc đẩy của những cá nhân tham gia trên thương trường. Khi họ hoạt động kinh doanh không vì động cơ thúc đẩy là nhằm bóc lột và triệt tiêu người khác thì rõ ràng là lợi nhuận của họ sẽ bị giảm thiểu. Nhưng khi sự canh tranh được tiến hành cùng với lòng khoan dung, độ lượng và một động cơ thúc đẩy tích cực thì ít ra họ cũng có thể giảm thiểu được mức độ gây hại cho người khác.

Một lần nữa, độc giả có thể phản đối rằng trong thế giới kinh doanh chúng ta không thể đặt con người lên trên lợi nhuận được. Nhưng ở đây chúng ta cần phải ghi nhớ rằng xét cho cùng thì tất cả những ai tham gia vào các ngành công nghiệp và kinh doanh đều là những con người giống như chúng ta. Thậm chí những người cứng lòng nhất cũng có thể nhận thấy rằng việc kinh doanh vì lợi nhuận bất chấp hậu quả là điều sai lầm. Thế nên một lần nữa, những gì mỗi người trong chúng ta cần phải có được chính là lòng từ bi.

Ngược lại, nếu chúng ta không quan tâm đến những phẩm chất tích cực đó, thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ thất bại trong kinh doanh. Đây không chỉ là một ý tưởng. Lịch sử đã cho thấy các bước phát triển tích cực trong xã hội loài người đã xuất hiện trong vai trò là kết quả của lòng từ bi. Nếu chúng ta nhìn lại các cuộc cách mạng của xã hội loài người, chúng ta sẽ nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc có được khả năng nhìn xa trông rộng nhằm tạo ra được những thay đổi tích cực. Ý tưởng chính là động cơ tạo ra những tiến bộ.

Những khó khăn rắc rối về sự chênh lệch kinh tế tạo ra những thử thách to lớn đối với toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, khi chúng ta bước vào thiên niên kỷ mới, tôi tin rằng chúng ta sẽ có được nhiều lý do tốt để có thể lạc quan. Trong suốt những năm giữa và cuối thế kỷ hai mươi, người ta có xu hướng chung là luôn cho rằng sức mạnh kinh tế và chính trị là yếu tố quan trọng hơn hết. Nhưng tôi tin rằng rồi đây lối suy nghĩ này sẽ được thay đổi. Thậm chí những quốc gia hùng mạnh nhất về kinh tế và chính trị cũng hiểu được rằng chẳng có lý do gì để không quan tâm đến các giá trị nhân văn cơ bản. Quan niệm rằng chẳng có chỗ cho vấn đề phẩm hạnh trong quan hệ quốc tế giờ đây đã trở thành một ý tưởng ngớ ngẩn. Dù sao thì ngày nay những từ ngữ chẳng hạn như “hòa giải”, “phi bạo lực” và “từ bi” đã và đang trở thành một trong những từ ngữ được các chính trị gia sử dụng nhiều nhất. Đây là một bước phát triển đáng mừng cho toàn thể nhân loại. Theo kinh nghiệm của tôi, tôi nhận thấy mỗi khi tôi đến thăm các quốc gia trên thế giới, người ta thường yêu cầu tôi nói về sự hòa bình tĩnh tại và lòng từ bị trước một lượng lớn khán thính giả – hàng ngàn người. Tôi nghĩ rằng sở dĩ người ta muốn lắng nghe tôi nói về những đề tài đó là bởi vì về cơ bản nhân loại luôn đánh giá cao sự công bằng và sự thật.

Tôi cũng rất vui rằng, nền kinh thế thế giới càng phát triển thì nó càng phụ thuộc tương hỗ lẫn nhau. Kết quả là mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào một vài quốc gia khác ở một mức độ nào đó. Nền kinh tế hiện đại, giống như môi trường, hoàn toàn không phân biệt ranh giới. Thậm chí kể cả những quốc gia thù địch lẫn nhau vẫn phải hợp tác cùng nhau trong việc tận dụng nguồn lực của mình. Và mối quan hệ kinh tế của chúng ta càng phụ thuộc tương hỗ thì mối quan hệ chính trị của chúng ta càng không nằm ngoài quy luật này.

Điều quan trọng là chúng ta cần phải thiết lập những Hiệp hội từ sự tự nguyện đặt trên nền tảng là ý thức về ích lợi của nhau qua sự hợp tác. Thực thế, thử thách của thiên niên kỷ mới rõ ràng là việc đạt được sự hợp tác quốc tế mà trong đó người ta đặt sự quan tâm về quyền lợi của mọi người lên hàng đầu.