CỘNG TÁC CHIA SẺ – CHỈ LÀ QUAY LẠI “NẾP CŨ”

Trích: 2030 – Những Xu Hướng Lớn Sẽ Định Hình Thế Giới Tương Lai; Võ Kiều Linh dịch; Nhà Xuất Bản Thế Giới- 2022

17/10/2026
9 lượt xem

Cộng tác tiêu dùng và dùng chung tài sản không phải là ý tưởng mới. Trên thực tế, khoảng 90% tiến trình lịch sử ghi nhận con người không chỉ tồn tại lại còn phát triển mạnh mẽ mà không cần có tài sản tư hữu, đặc biệt là liên quan đến đất đai. Dựa trên hồ sơ khảo cổ về các cộng đồng người có từ trước cuộc cách mạng nông nghiệp và tài liệu nghiên cứu nhân chủng học về các quần thể săn bắn hái lượm ngày nay ở châu Phi, các nhà nghiên cứu đưa ra luận điểm những người không sở hữu tài sản thường hạnh phúc hơn những người sở hữu. Yuval Noah Harari, tác giả cuốn Sapiens (Lược sử loài người), cho rằng: “Sự ra đời của nông nghiệp chẳng hạn đã làm tăng sức mạnh tập thể của nhân loại lên nhiều cấp độ. Tuy nhiên, nó không hoàn toàn cải thiện cuộc sống của nhiều người… Nông dân ăn uống còn tệ hơn những người săn bắn hái lượm… Tốc độ phát triển sức mạnh không tương xứng với tốc độ gia tăng hạnh phúc của con người”. Thậm chí, một số cộng đồng nông nghiệp định cư còn không màng đến tư hữu mà ủng hộ các khu chăn thả chung. Đến năm 2030, tiêu dùng cộng tác một lần nữa sẽ lấn át hình thức tư hữu.

Thần Giới trẻ ngày nay không cần sở hữu tài sản, thay vào đó họ thích dùng đồ của người khác – với một khoản phí. Họ cho rằng có thể cộng tác trong sử dụng tài sản, theo đó mọi người dùng chung tài sản với người khác trên cơ sở cùng có lợi. Các nhóm tuổi khác cũng có ý nghĩ thích thuê hơn là sở hữu. Ngay cả trong bộ phim hoạt hình Gia đình Simpson phản ánh rõ nét quá trình phát triển văn hóa của người Mỹ, Marge Simpson cũng trở thành tài xế Uber (và ông Burns đã gọi một chiếc Uber). Tác động của nền kinh tế chia sẻ dùng chung chỉ mới bắt đầu. Đến năm 2030, gần một nửa chi tiêu của chúng ta sẽ ở dạng tiêu dùng “cộng tác” hoặc “chia sẻ”, dù là ô tô, nhà cửa, văn phòng, tiện ích hay vật dụng cá nhân. Sở hữu sẽ hết thời; chia sẻ sẽ lên ngôi.

Rachel Botsman, tác giả cuốn What’s Mine Is Yours: The Rise of Collaborative Consumption (Tạm dịch: Của tôi cũng là của anh: Sự trỗi dậy của thời kỳ tiêu thụ cộng tác), cho biết: “Thế hệ của tôi đang chuyển từ văn hóa tôi sang văn hóa chúng ta”. Tất cả chỉ cần “chia sẻ thông qua điện thoại thông minh trong thời đại mọi người được kết nối thường xuyên”. Năm 2016, doanh nhân thế hệ trẻ Caren Maio tuyên bố “chỉ trong một thập niên, Giấc mơ Mỹ về một ngôi nhà của riêng mình đã mất đi ánh hào quang rực rỡ”. Thay vào đó, “hình thức đi thuê, từ lâu bị xem là giải pháp tạm thời, đang dần trở thành lựa chọn mới của người Mỹ”. Tờ Financial Times cho biết “từ London, New York cho đến New Delhi hay Thượng Hải, thế hệ Millennials đang xóa nhòa mọi ranh giới giữa gia đình, công việc và giải trí – chia sẻ chỗ ở để tiết kiệm tiền và thời gian cũng như để kết bạn mới”. Tạp chí Forbes gọi đó là “Nownership” (Không sở hữu). Ông Marr nói rõ hơn: “Trước đây, “gia đình có hai xe” (hoặc thậm chí ba, bốn xe) từng là biểu thị có vị thế, ngày nay với giới trẻ Millennials, gia đình có vị thế chỉ cần có một xe, hoặc thậm chí chẳng có chiếc xe nào, mà chỉ dùng xe dịch vụ như Uber, Lyft, CarGo hay các dịch vụ khác”.

Thế hệ Millennials Mỹ còn khiến nhiều người ngạc nhiên hơn khi không màng đến việc mua xe hay lấy bằng lái. Năm 2015, chỉ có 77% người Mỹ trong độ tuổi từ 20 đến 24 muốn thi lấy giấy phép lái xe, so với 92% của năm 1983 chẳng hạn. Bên cạnh đó, phân khúc dân số từ 15 đến 35 tuổi đang trở nên đa dạng hơn về chủng tộc và ngôn ngữ, đơn giản vì những người mới nhập cư thường sinh nhiều con hơn. Và chúng ta biết rằng những người nhập cư, cũng như con cháu họ có xu hướng muốn kết hôn, mua nhà, mua xe. Do đó, vẫn chưa xác định được phân khúc người tiêu dùng trẻ ở Mỹ và các khu vực châu Âu sẽ như thế nào khi năm 2030 đến. Tất cả tùy thuộc vào hành vi của con cái thế hệ nhập cư vì họ sẽ chiếm ít nhất 2/3 dân số cùng nhóm tuổi.

Khảo sát trên toàn thế giới cho thấy ít nhất 2/3 người lớn (ở mọi lứa tuổi) sẵn sàng đăng thông tin nhà, xe của họ lên các ứng dụng. Và tỷ lệ này còn cao hơn ở các thị trường mới nổi, một dấu hiệu tốt cho thấy khả năng trụ vững của nền kinh tế chia sẻ trong tương lai. Nền kinh tế chia sẻ về cơ bản giúp phát triển tiêu dùng vì sự tiện lợi cộng thêm và chi phí thấp hơn đã thúc đẩy người tiêu dùng. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra một thách thức to lớn đối với cá nhân hay công ty kinh doanh các ngành truyền thống – như khách sạn và taxi – vì phải chịu tác động kinh khủng từ sự thay đổi này.

Thêm vào đó, nói đến tiềm năng tăng trưởng trong tương lai của nền kinh tế chia sẻ, chúng ta phải chú ý đến những chuyển biến giữa các thế hệ đã được đề cập trong Chương 2. Chẳng hạn, số tin đăng cho thuê của nhóm dân số trên 60 tuổi tăng nhanh hơn các nhóm tuổi khác, theo thống kê của Airbnb. Các ứng dụng gọi xe như Uber và Lyft cũng có xu hướng tương tự với cả hai chiều dịch vụ: tài xế và hành khách. Thành công của những người sáng lập loại hình kinh doanh này không phải là ăn may mà nhờ cách suy nghĩ nhạy bén, họ đã kết nối thành công thế hệ Millennials với những người cao niên, hai mặt của cùng một loại hình kinh doanh.

Giờ hãy nhìn ra toàn cầu. Ở châu Á Thái Bình Dương, Trung Đông và châu Phi, tỷ lệ thế hệ Millennials sử dụng dịch vụ, hàng hóa trên cơ sở chia sẻ dùng chung cao hơn mức trung bình toàn cầu, trong khi ở Mỹ Latinh, Mỹ và châu Âu, tỷ lệ này thấp hơn đáng kể.

Sự khác biệt này lại không xảy ra đối với các Thế hệ im lặng, Thế hệ bùng nổ dân số, Thế hệ X hay Thế hệ Z. Rõ ràng, thế hệ Millennials rất khác – cho đến thời điểm này.

Theo nhiều cách, nền kinh tế chia sẻ đã thay đổi nếp suy nghĩ và khát vọng của các thế hệ, kể cả Millennials. “Lối sống Mỹ” rốt cuộc sẽ thay đổi ra sao nếu không ai muốn sở hữu thứ gì? Người Mỹ trên 40 tuổi đều lớn lên trong thời kỳ mà tài sản là mục tiêu đương nhiên, ít nhất là trong cái gọi là thế giới tự do. Toàn bộ nền kinh tế phục vụ cho mục tiêu làm sao để sở hữu, duy trì và hưởng lợi từ tài sản. Phần lớn hệ thống pháp luật là về bảo vệ tài sản. Nhiều nhà văn và những người vận động nổi tiếng trong lịch sử đã rất chú trọng nhấn mạnh vấn đề ai sở hữu tài sản gì. Nhiều tư tưởng và tuyên ngôn mang tính cách mạng – như Karl Marx chẳng hạn – đã kêu gọi bãi bỏ tư hữu nhằm giải quyết mọi vấn đề xã hội. Tư hữu từ lâu đã là trụ cột của trật tự xã hội, cũng là yếu tố quan trọng nhất gây ra bất bình đẳng, và là động lực đằng sau nhiều loại tội phạm, đặc biệt là chiến tranh. Trong khi đó, tài sản là nền tảng của kinh tế thị trường và kinh tế trao đổi. Thế chấp nhà là nét đặc trưng của người Mỹ, như bánh táo vậy. Nếu Napoléon từng nói nước Anh là quốc gia của chủ cửa hàng (a nation of shopkeepers), thì Mỹ là quốc gia của chủ nhà. Nhà xã hội học Andrew Walder Trường Đại học Stanford viết rằng: Các quyền liên quan đến tài sản “là hình thức kết tinh các vai trò khác nhau của nhà nước, chính trị, luật pháp và văn hóa. Đó là yếu tố trung tâm định hình nên các quy luật kinh tế và sự bất bình đẳng xã hội”.

Chúng ta thường định nghĩa giai cấp xã hội, cùng với mức độ thành công và hạnh phúc, bằng tài sản người ta có (hoặc không có), như: giai cấp quý tộc có đất, người chủ cửa hàng, giai cấp tư sản thương mại và công nghiệp, giai cấp trung lưu làm chủ, giai cấp vô sản, nông dân lĩnh canh,… Công nghệ phát triển mở ra một phạm trù xã hội mới: “giai cấp chia sẻ”, thể hiện một lối sống, chứ không phải tài sản. Trên diện rộng, công nghệ – cùng với các thay đổi văn hóa kèm theo – tạo nên xu hướng chuyển hóa này. Ngoại động từ “uberize” đã trở thành một từ mới trong tiếng bản ngữ, và được công nhận là một mục từ trong Từ điển tiếng Anh Collins với nghĩa: “Một loại hình kinh doanh trong đó khách hàng và người cung cấp liên hệ trực tiếp, thường là qua công nghệ di động, để thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu”.

Nếu chỉ có dịch vụ chia sẻ nhà và xe là hai xu thế lớn phát triển nhờ ứng dụng kỹ thuật số, thì tác động không mang tính chuyển hóa đến vậy. Nền kinh tế dùng chung tài sản chỉ là một phần của “nền kinh tế cộng tác” lớn hơn, bao gồm cho vay trực tuyến, huy động vốn cộng đồng, nguồn cung ứng cộng đồng, mua đi bán lại, hợp tác làm vẫn tác làm việc, hợp đồng công việc tự do và nhiều hình thức cộng tác tạ tác trực tuyến khác. Tất cả các loại hình này có thể kết hợp thành nền kinh tế cộng tác hay nền kinh tế hợp đồng tự do (gig economy) vì đều dựa vào “các thị trường trực tuyến và hệ thống thanh toán qua ứng dụng”, theo nhận xét của cộng tác viên Nathan Heller trên tờ The New Yorker. “Nhờ các thị trường này, người lao động có cơ hội kiếm tiền theo lịch làm việc riêng của mình, thay vì làm công việc truyền thống. Và chúng cũng bám được vào những ngành nghề kém linh hoạt”. Dù hình thức cộng tác và chia sẻ này đã tồn tại qua nhiều thế kỷ, nhưng điều mới mẻ là các công ty kinh doanh theo loại hình này “không chỉ thể hiện cách suy nghĩ mới hay cung cấp dịch vụ mới, mà còn vận dụng hiệu quả nền tảng kỹ thuật số để cung cấp dịch vụ cho mọi người bất kỳ khi nào và ở đâu theo nhu cầu”, tác giả sách bán chạy Bernard Marr nhận định. Nếu không có các ứng dụng công nghệ và hệ thống xử lý dữ liệu thuật toán thì Uber hay Lyft không thể thành công. Trên thực tế, chính những công ty kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế chia sẻ là tác nhân thúc đẩy mạnh mẽ nhất dù họ không trực tiếp sản xuất hoặc cung cấp công nghệ. Các ứng dụng giúp giảm chi phí giao dịch và tăng mức độ thuận tiện với chi phí hợp lý cho các bên cộng tác. Doanh nhân Caitlin Connors nói: “Tôi nghĩ chúng ta đang bước vào làn sóng phát triển văn minh nhân loại tiếp theo. Con người (giờ đây] có thể hoạt động trên cơ sở giao dịch cá nhân trực tiếp, chia sẻ ý tưởng và kinh doanh cộng tác mà không cần qua trung gian”. Những câu hỏi lớn đặt ra cho năm 2030 là: Liệu nền kinh tế cộng tác có khiến thế giới trở nên bất bình đẳng hơn? Liệu nó có xóa bỏ một số dạng công việc đã biết không? Liệu nó có giúp giải quyết cuộc khủng hoảng môi trường không?