NGHỆ THUẬT VÀ KHOA HỌC CỦA SỰ TỈNH THỨC

Trích: Về Mái Nhà Tự Do (Nguyên tác: Shift Into Freedom)/ Loch Kelly; Minh Hằng dịch Việt; 2023.
Nguồn: About Loch Kelly | Awakening Meditations | Nondual Mindfulness
15/10/2026
34 lượt xem
(Loch Kelly- nguồn Google hình ảnh)
☘TÁC GIẢ:
Loch Kelly, Thạc sĩ Thần học và nhân viên xã hội lâm sàng được cấp phép (LCSW), là một tác giả được trao giải thưởng, một giáo viên thiền, một nhà tâm lý trị liệu và người sáng lập Viện Chánh niệm Không nỗ lực phi lợi nhuận. Những lời dạy của ông đều tổng hợp các thực hành thông thái cổ xưa, khoa học thần kinh và tâm lý học hiện đại. Loch hết lòng làm dịu khổ đau tận căn nguyên và khuyến khích mọi người sống từ sự tốt đẹp căn bản của họ. Loch nổi tiếng với khiếu hài hước thân thiện và niềm tin rằng sự tỉnh thức là giai đoạn phát triển tự nhiên kế tiếp. Ông giảng dạy những lời chỉ dẫn bất nhị chuyên sâu song dễ hiểu và các phương pháp trực tiếp về chánh niệm bất nhị, được thấm nhuần bởi tâm lý học và công bằng xã hội.
☘
☘Tất cả các vấn đề của nhân loại bắt nguồn từ việc con người không có khả năng ngồi yên một mình trong phòng.
-BLAISE PASCAL
Những kết quả là: thiền là một trong những điều tốt nhất bạn có thể làm cho chính mình. Gần đây lợi ích của thiền đã được thừa nhận trong văn hóa chính thống. Trong một tương lai rất gần, thiền đều đặn sẽ được coi là quan trọng đối với bộ não của bạn cũng như tập thể dục đều đặn đối với cơ thể bạn. Tôi hy vọng rằng, tiếp theo sự tán thành thiền đều đặn, tỉnh thức cũng sẽ trở thành một giai đoạn phát triển thông thường, có chủ ý – rất giống như việc đi học đại học.
Trong nhiều thế kỷ, những hành giả tâm linh và thiền giả đã tường thuật những thay đổi tích cực trong cuộc sống của họ là kết quả của thiền, cầu nguyện, tìm hiểu và thực hành tâm linh. Những điều thuộc về việc gia tăng lòng bi, tâm an và cải thiện khả năng tập trung hiện đang được thẩm định một cách khoa học. Hơn hai mươi năm qua, nghiên cứu đã chỉ ra rằng thiền có tác dụng làm lợi cho thân, tâm và các cảm xúc. Vì thiền đã được công nhận làm giảm các triệu chứng liên quan đến căng thẳng, nên nhiều chuyên gia y tế và nhà trị liệu tâm lý hiện nay khuyên thiền. Có tài liệu cho rằng thiền làm giảm lo âu, trầm cảm và đau mãn tính; cải thiện chức năng nhận thức; tăng cường khả năng miễn dịch; và giảm huyết áp. Hơn nữa, các thực hành chánh niệm là những cách hiệu quả để rèn luyện con người về các phẩm chất cá nhân và xã hội như đạo đức, thấu cảm, giao tiếp cảm xúc và lòng bi mẫn.
Tuy nhiên, hầu hết các loại thiền được nghiên cứu hiện nay chỉ là những thực hành nhập môn từ các truyền thống trong đó mục tiêu là tỉnh thức. Những thực hành sơ bộ này – chẳng hạn như định nhất tâm và chánh niệm chủ tâm – làm giảm căng thẳng và cải thiện sự tập trung. Tại sao dừng lại ở đó? Chúng ta có thể bắt đầu với nghiên cứu khoa học thần kinh hiện tại xác nhận sự vắng bóng của một bản ngã riêng biệt tập trung trong não, sau đó khám phá sự hiện diện của tỉnh giác và những lợi ích của nó.
Cách tiếp cận mở lòng giác trình bày các trình độ thực hành tiếp theo, dễ học như các thực hành sơ bộ. Mặc dù những thực hành ở trình độ kế tiếp này – giác về giác, chánh niệm không nỗ lực và chánh niệm tâm – mang lại những lợi ích tương tự về mặt giảm căng thẳng và tập trung, nhưng chúng chủ yếu được chỉ định để loại bỏ gốc rễ của khổ đau do đồng hóa với bản ngã gây ra và giúp chúng ta tiếp cận tiềm năng tự nhiên của mình cho niềm hân hoan, hạnh phúc và sống từ trạng thái dòng chảy hợp nhất.
Các chuyên gia trong những lĩnh vực khoa học và tâm linh, những người hầu như bất hòa với nhau trong nhiều thế kỷ, hiện đang tham gia vào các cuộc đối thoại công khai và thậm chí là các dự án chung (bất chấp những người theo trào lưu chính thống ở cả hai phái). Một số nhà khoa học đang thay đổi những giả định lâu nay của họ về tâm con người nhờ nghiên cứu về thiền và quét não của những hành giả tâm linh. Đồng thời, một số hành giả tâm linh đang bắt đầu vượt ra ngoài niềm tin hẹp hòi trong các giáo lý của họ để mở mang trí óc và thực tiễn cho các nghiên cứu khoa học gần đây; một số thậm chí còn tham gia nghiên cứu. Trong một số sự kiện, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma được hỏi Ngài sẽ làm gì nếu các nghiên cứu khoa học làm mất giá trị niềm tin của Ngài, Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời rằng sẽ đơn giản thay đổi niềm tin của Ngài.
Nghiên cứu khoa học hoạt động thông qua một phương pháp ba ngăn. Ngăn đầu là quan sát khách quan các mục nghiên cứu, ngăn thứ hai là tạo luận điểm và kết luận dựa trên những hiện tượng quan sát được này, và ngăn thứ ba là triển khai một giả thuyết và các thí nghiệm kiểm tra những kết luận này. Nghiên cứu thiền kết hợp quan sát khoa học của người thứ ba với các tường thuật về kinh nghiệm thiền của người đầu tiên. Không thể ném ra kinh nghiệm chủ quan chỉ vì một bên thứ ba không thể quan sát nó. Trong lĩnh vực thiền, những người trong chúng ta cần phải tách biệt sự mê tín và ngụy khoa học khỏi những tác động có thể lặp lại và có lợi của thiền.
Giác là vô hình và người quan sát bên ngoài không thể nhìn thấy giác, nhưng các tác động của việc ứng dụng giác một cách có chủ ý có thể được nhìn thấy trong não. Kỹ thuật hiện đại đã mang lại những tiến bộ đáng kinh ngạc trong khả năng quan sát các chức năng não bộ của chúng ta. Các thiết bị như quét SPECT – máy chụp cắt lớp đơn photon (đo lưu lượng máu trong não) và fMRI – chụp cộng hưởng từ chức năng (sử dụng nam châm mạnh hơn khoảng bảy lần so với nam châm hút các xe hơi) có thể đưa ra các hình ảnh chính xác về hoạt động của não và những thay đổi do các hành thiền khác nhau đem đến.
Khoa học thần kinh vẫn còn ở trong các giai đoạn đầu. Chúng ta không thể tạo ra bất kỳ mối tương quan chính xác nào giữa các nghiên cứu về não bộ hiện tại và các ý nghĩ trong tâm thức của mình. Chúng ta vẫn chưa biết tâm thức là gì và nó đến từ đâu. Nghiên cứu mà chúng tôi quan tâm chủ yếu là các ứng dụng lâm sàng: liệu hành thiền có làm giảm khổ đau và gia tăng hạnh phúc hay không. Ngay từ ban đầu trong lĩnh vực nghiên cứu này, chúng tôi có thể nói rằng thiền mang lại sự giải thoát khỏi khổ đau ở nhiều cấp độ khác nhau một cách đáng tin cậy.
☘Não Già Có Thể Uốn
Gần đây, niềm tin chung lâu nay đã thay đổi đáng kể: giả định rằng bộ não người trưởng thành có ít khả năng phát triển. Tất cả chúng ta đều nghe câu nói “Tre già khó uốn”. Nhưng não già có thể học những thói quen mới. Bộ não có tính dễ uốn nắn, khả năng thay đổi và phát triển trong thời kỳ trưởng thành hơn bất kỳ ai từng nhận ra. Các hoạt động lặp đi lặp lại – tinh thần hoặc thể chất – có thể tạo ra mạng lưới thần kinh tăng cường đa năng. Nhà tâm lý học thần kinh tiên phong Tiến sĩ Donald O. Hebb tuyên bố “Các neutron (tế bào thần kinh) hoạt động cùng nhau gắn kết cùng nhau”. Một tiền đề cơ bản của tính dễ uốn nắn thuộc về thần kinh là khả năng hiện có thể quan sát được của bộ não nhằm tạo ra các thói quen thần kinh mới qua các bài tập có chủ ý. Sự hợp tác của khoa học hiện đại với các phương pháp thiền cổ xưa làm cho thiền có giá trị đối với nhiều người mà trước đây họ bị ngăn cản thiền bởi vì các đoàn thể tôn giáo.
Không ai có thể nói chắc liệu giác bắt nguồn từ não bộ hay não bộ bắt nguồn từ giác. Nhưng chúng ta biết rằng giác có thể thay đổi não bộ. Các thực hành giác không chỉ an trụ não bộ của bạn mà chúng còn thay đổi cách thức chức năng của não. Giác di chuyển có chủ ý trong tâm thức của bạn sẽ nâng cấp não bộ của bạn. Các quan sát khoa học hiện xác nhận những thay đổi tích cực của não bộ mà những thiền giả đang trải nghiệm là kết quả của việc rèn luyện có chủ ý thông qua thiền và thực hành giác trong nhiều thế kỷ.
Trong tất cả các truyền thống và dòng truyền thừa, thiền có những bước tiến bộ, nhưng phong cách tu luyện thì khác nhau. Cách tiếp cận mở lòng giác đưa ra một vài cách khác nhau để bắt đầu – mỗi cách hướng đến một phong cách học tập khác nhau. Các thực hành Thoáng thấy có thể được xem là các hình thức thiền nâng cao, dễ học như hầu hết các thiền ở trình độ người mới học.
Sử dụng cách tiếp cận mở lòng giác, bao gồm các thực hành như chánh niệm không nỗ lực, bạn sẽ nhận được những lợi ích về thể chất và tinh thần giống như những người theo đuổi các kỹ thuật thiền chánh niệm khác. Tuy nhiên, bằng cách siêu vượt các tầng tâm, bạn cũng có thể nhận được những lợi ích bổ sung, bắt nguồn từ việc giảm bớt khổ đau hiện sinh sâu sắc. Trong một số hình thức thiền, bạn cố gắng làm dịu tâm thường ngày của mình, nhưng trong cách tiếp cận này, bạn sẽ học cách siêu vượt khỏi tâm tư duy và khám phá tầng tâm khác vốn điềm tĩnh và tỉnh táo: tỉnh giác. Tỉnh giác được gọi là thần dược vì nó giúp xoa dịu khổ đau và giúp chúng ta tiếp cận với cảm giác hạnh phúc sâu sắc – bất kể điều gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta.
☘Vùng Não Hoạt Động Mặc Định: Tỉnh Từ Mơ Mộng
Chúng ta đã thấy làm thế nào đồng hóa bản ngã là cách mà hầu hết mọi người sắp đặt sự nhận dạng của họ và vận hành trong suốt cuộc sống hàng ngày. Việc sáng tạo đồng hóa bản ngã đã ăn sâu vào não bộ của chúng ta đến mức nó thậm chí còn diễn ra một cách vô thức trong suốt các mơ mộng của mình. Một khám phá gần đây trong khoa học thần kinh có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng của chúng ta để sống một đời tỉnh thức. Vào năm 2001, Bác sĩ y khoa Marcus Raichle đã đặt ra thuật ngữ vùng não hoạt động mặc định sau khi tiến hành một nghiên cứu quét não fMRI. Trong khi thực hiện các phép đo cho một nghiên cứu giáo dục, ông đã bật máy fMRI. Ông phát hiện rằng một số khu vực nhất định trong bộ não của các đối tượng được kích hoạt khi họ được yêu cầu nghỉ ngơi hoặc không làm gì cả. Vùng não hoạt động mặc định là một hệ thống các vùng não tham gia vào các ý tự quy chiếu khi không tập trung vào một công việc hoặc thế giới bên ngoài. Khám phá đầu tiên của ông là não của chúng ta không bao giờ yên tĩnh. Ngay cả khi chúng ta đang cố gắng nghỉ ngơi và không làm gì cả, não của chúng ta vẫn hoạt động, thường là với một loại hoạt động có ý thức cụ thể, chẳng hạn như ý huyên thuyên và danh sách việc cần làm. Khi nhìn kỹ hơn, chúng ta thấy một cái tôi nhỏ bé luôn luôn bất mãn đang vận hành một cách vô thức.
Trong hoạt động định hướng mục tiêu, vùng não hoạt động mặc định bị hủy kích hoạt và một vùng não khác, vùng não làm việc tích cực được kích hoạt. Não của chúng ta luân phiên liên tục và nhịp nhàng giữa hoạt động bên ngoài, hướng đến mục tiêu, làm việc tích cực và hoạt động mặc định, tự tham chiếu, bên trong. Nếu bạn đã từng cố gắng thiền bằng cách tập trung vào một nhiệm vụ như theo dõi hơi thở của mình, bạn sẽ biết tâm mình lang thang trong trạng thái mơ mộng như thế nào. Tâm lang thang là một loại mơ mộng đặc biệt – một loại trong đó đồng hóa bản ngã là đối tượng. Hoạt động mặc định tập trung vào bên trong chủ yếu được trải nghiệm dưới dạng những suy nghĩ tự tham chiếu với cái tôi nhỏ bé như là nhân vật chính. Mơ mộng này kể câu chuyện về việc tìm kiếm hão huyền và bất khả thi của đồng hóa bản ngã để thỏa mãn trong các vở kịch hiện tại hoặc những hy vọng tương lai, và kết quả là cảm giác về lòng khao khát và nỗi buồn không được viên mãn liên tục.
Các nhà tâm lý học Matthew A. Killingsworth và Daniel T. Gilbert đã tiến hành một nghiên cứu về các tác động của vùng não hoạt động mặc định với 2.250 sinh viên tại Đại học Harvard. Sử dụng một ứng dụng trên điện thoại thông minh, các nhà nghiên cứu đã liên hệ với các sinh viên theo các khoảng thời gian ngẫu nhiên để hỏi họ về “họ hạnh phúc như thế nào, hiện tại họ đang làm gì và liệu họ đang nghĩ về hoạt động hiện tại hay đang nghĩ về điều gì khác là dễ chịu, trung tính hay khó chịu”. Từ lượng dữ liệu khổng lồ thu thập được, Killingsworth và Gilbert đã lượm lặt được rằng 49,6% thời gian thức của sinh viên được dành để suy nghĩ về điều gì đó khác ngoài việc họ đang làm. Nghiên cứu tiết lộ thêm rằng kiểu suy nghĩ này khiến các sinh viên không vui. Nghiên cứu đã kết luận: “Tâm con người là tâm lang thang, và tâm lang thang là một tâm buồn rầu”.
Nhiều người cố gắng giữ cho mình bận rộn, thậm chí trở thành người nghiện công việc, như một chiến lược để duy trì vùng não làm việc tích cực nhằm tránh tâm lang thang buồn rầu. Nhưng bận rộn không phải là giải pháp cho vấn đề buồn rầu. Bằng chứng cho thấy chỉ 10% hạnh phúc của chúng ta là dựa trên thành công bên ngoài. Theo Killingsworth và Gilbert, chỉ có 4,6% hạnh phúc của chúng ta bắt nguồn từ hoạt động cụ thể mà chúng ta đang làm.
Thậm chí khi chúng ta rất chánh niệm trong các công việc hàng ngày, chúng ta vẫn cần học cách giải quyết nỗi buồn gây ra bởi tâm lang thang của vùng não hoạt động mặc định. Hoạt động tự tham chiếu của phương thức mặc định có phải là một trạng thái sinh học cố định không? Hay nó là chất dẻo và có thể thay đổi? Nghiên cứu cho thấy rằng vùng não hoạt động mặc định phải trải qua sự thay đổi phát triển. Bộ não của trẻ sơ sinh phô bày bằng chứng hạn chế về vùng não hoạt động mặc định, nhưng ở trẻ em từ chín đến mười hai tuổi, hoạt động của vùng não mặc định trở nên năng động hơn.
Một cách tiềm năng để giảm hoạt động của vùng não ở chế độ mặc định là thực hành thiền chánh niệm. Có một số nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động thần kinh trong vùng cốt lõi của vùng não hoạt động mặc định – vỏ não đai sau – biến thành ít kích hoạt hơn trong quá trình thực hành chánh niệm. Các thực hành thiền chánh niệm như thiền quán chiếu mở, thiền minh sát và tánh giác không lựa chọn làm giảm hoạt động của vùng não hoạt động mặc định, nhưng chúng làm như vậy chỉ bằng cách quan sát nội hàm. Các thiền như đi bộ và ăn uống chánh niệm, nhất tâm, shamatha (định) và tập trung chuyên chú cũng làm giảm hoạt động của vùng não hoạt động mặc định, nhưng chúng làm như vậy chỉ bằng cách tập trung vào bên ngoài, do đó kích hoạt mạng lưới làm việc tích cực. Khi làm như vậy, các thực hành thiền chánh niệm này thành công giảm vùng não hoạt động mặc định, nhưng chúng cũng hỗ trợ sự xen kẽ hai mặt liên tục của hai hoạt động. Tôi đã có kinh nghiệm về điều này từ rất sớm trong tu tập thiền của mình.
Trong khi theo học cao học, tôi đã đến Sri Lanka, Ấn Độ và Nepal theo diện học bổng. Tôi học tại Đại học Kandy ở Sri Lanka và học thiền chánh niệm trong các tu viện và trung tâm thiền. Ở trong một nền văn hóa khác và học thiền đã chuyển hóa trên rất nhiều tầng. Trong suốt kỳ nhập thất kéo dài hai mươi mốt ngày đầu tiên của tôi, tôi cảm thấy một trạng thái tĩnh lặng liên tục kéo dài trong suốt tuần cuối cùng. Khi kỳ nhập thất kết thúc, tôi đi bộ xuống núi trong một trạng thái an lạc, phúc lành và tin rằng mình có thể ở trong trạng thái đó mãi mãi.
Tôi lên xe buýt địa phương ở dưới chân đồi, xe chật kín người vào giờ cao điểm. Chiếc xe buýt càng tiếp tục lăn bánh, càng lúc càng có nhiều người lên xe cho đến một trạm, có người đàn ông to lớn có vẻ say rượu chen lên. Anh ta hất mọi người sang một bên và đá thẳng vào mắt cá chân tôi. Khi cơn đau truyền lên não, sự bình tĩnh của tôi biến mất và tôi tràn ngập tổn thương và tức giận. Tôi nói với anh ta: “Này, anh, nhìn coi anh đang làm gì nè!” Anh ta quay lại nhìn tôi và chỉ cười. Nó giống như tiếng cười của vũ trụ: “Ồ, anh tưởng em đã vượt qua các cảm thọ phiền não rồi chứ? Không dễ dàng vậy ha? Ha ha”. Trạng thái tĩnh lặng mất thời gian dài như vậy để phát triển đã biến mất trong vài phút.
Chúng ta không muốn tắt ngấm vùng não hoạt động mặc định vì nó có những mặt tích cực, kể cả mang lại cho chúng ta khả năng tưởng tượng, kết giao tự do và suy nghĩ sáng tạo. Những khả năng nhận thức này phân biệt chúng ta với các loài khác, vì chúng cho phép chúng ta hình dung ra các kết quả trong tương lai và lập kế hoạch cho chúng – một lợi thế tiến hóa. Nếu chúng ta kiềm chế toàn bộ vùng não hoạt động mặc định nhằm cố làm cho bản thân hạnh phúc, chúng ta sẽ đánh mất sự sáng tạo. Có thể giữ những mặt tích cực mà không bị vùng não hoạt động mặc định bắt cóc vào buồn rầu suốt cả ngày không?
Một nghiên cứu lâm sàng, trong đó tôi tham gia với tư cách là một đối tượng, đã chỉ ra rằng trong các thực hành giác bất nhị, thiền sinh có thể đồng thời rõ biết được kinh nghiệm bên trong và bên ngoài của họ trong khi hòa vào các vùng bên trong và bên ngoài. Thiền giác bất nhị “tạo điều kiện cho một trạng thái tâm không đúng kiểu, trong đó những trải nghiệm bên ngoài và bên trong gia tăng hiệp trợ hơn là ganh đua”.
Các thực hành giác hợp nhất, bất nhị mà bạn sẽ học như một phần của cách tiếp cận mở lòng giác được chỉ định để giúp bạn thăng bằng vùng não hoạt động mặc định và vùng não làm việc tích cực, và sẽ giúp bạn thoát khỏi tâm lang thang tự quy chiếu, điều này giúp giải tỏa trạng thái buồn rầu và bám chấp đồng hóa bản ngã vô thức. Giác bất nhị – còn được gọi là sự hiện diện, tâm thức đồng nhất hoặc một tinh tế – là kinh nghiệm của tỉnh giác đồng nhất, ở đó bạn rõ biết đồng thời cả bên ngoài lẫn bên trong thân mình. Trải nghiệm này dường như hòa vào vùng não hoạt động mặc định. Thế giới nội tâm và sự sáng tạo vẫn có sẵn cho bạn.
Chúng ta có thể có chủ ý rèn luyện lại bộ não nhằm duy trì sự hòa điệu để chúng ta có thể tập trung một cách không nỗ lực, không bị phân tâm, kết nối và bình tĩnh khi hoạt động trong thế giới. Khi chúng ta khám phá ra rằng mở lòng giác đã được đồng nhất một cách tự nhiên, chúng ta có thể học sống từ cái nhìn bi mẫn của nó. Sức mạnh của vùng não hoạt động mặc định, giúp củng cố đồng hóa bản ngã một cách vô thức, có thể bị giảm đi. Đồng thời, các mặt tích cực và sáng tạo của vùng não hoạt động mặc định cũng có thể được duy trì sẵn qua các thực hành mở lòng giác.
☘ Tự Giải Thoát Mặc Khải Những Phẩm Chất Tích Cực Tự Nhiên
Bác sĩ y khoa Andrew Newberg, giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Y học Tích hợp Myrna Brind ở Đại học Thomas Jefferson, từ lâu đã say mê khoa học về những thay đổi của não bộ liên quan đến các thực hành tâm linh. Trong một nghiên cứu, Newberg đã sử dụng máy quét SPECT (máy chụp cắt lớp đơn photon) để xem xét hoạt động trong não của các Phật tử Tây Tạng đang thiền định và các nữ tu dòng Phanxicô đang cầu nguyện. Nhiều nghiên cứu về thiền đã tập trung vào các thùy trán của não, có liên quan đến sự chuyên chú. Newberg đặc biệt quan tâm đến các thùy đỉnh cao hơn, nằm ở phần sau não. Những thùy này, được ông gọi là vùng liên kết định hướng (OAA-Orientation Association Area), chịu trách nhiệm định hướng chúng ta trong thời gian và không gian, trong số những thứ khác. Khi các thùy đỉnh ở mức hoạt động bình thường, chúng tạo ra cảm giác mạnh mẽ về ranh giới vật lý và sự tách biệt với những người khác. Việc đồng chọn chương trình ranh giới vật lý bởi sự đồng hóa bản ngã tạo ra cảm thọ về một cái tôi vững chắc, riêng biệt. Đồng hóa bản ngã sử dụng OAA để giúp tạo ra cảm thọ về một bãn ngã giới hạn ở cấp độ đồng nhất.
Từ nghiên cứu, Newberg kết luận: “Nếu bạn có thể giảm hoạt động của các thùy đỉnh một cách có ý thức, có lẽ bạn sẽ cảm thấy mất mát hoặc đình chỉ về tự nhận thức bản thân trong một thời gian ngắn. Bạn cũng có thể trải nghiệm mất cảm giác về không gian và thời gian. Chúng tôi khám phá ra rằng cả các nữ tu và các Phật tử đều làm đúng như vậy – họ có thể có chủ ý giảm hoạt động của các thùy đỉnh trong khi thiền”.
Trong thời gian hành thiền hoặc cầu nguyện, quét SPECT cho thấy hoạt động giảm đáng kể trong OAA của những người tham gia. Đồng thời, những thiền giả này tường thuật cảm thọ ít tập trung vào cái tôi hơn trong khi trải nghiệm sự hợp nhất vô biên. Những thay đổi quan sát được trên bản quét não của họ là tương tự nhau và những người tham gia đã tường thuật những kinh nghiệm tương tự về việc mất cảm giác về một bản ngã riêng biệt. Cùng với sự vắng mặt của một bản ngã nhỏ bé, có sự gia tăng những phẩm chất tích cực của sự hợp nhất, tỉnh táo, sáng tỏ, vô biên, tự do, hân hoan, tình yêu thương và sự kết nối.
Vì vậy, khi chúng ta sử dụng các thực hành tâm linh làm giảm hoạt động của thùy đỉnh, cảm giác nhận dạng của chúng ta sẽ vừa mở ra khỏi chương trình ranh giới vật lý và bắt đầu trải nghiệm tình trạng vô biên của chân tánh của mình. Điều quan trọng là học các thiền và thực hành giác làm giảm nhẹ hoạt động trong vùng não này để tạo điều kiện tách rời cảm giác thể chất bình thường của thân chúng ta khỏi nền tảng của hiện hữu vô tận của mình.
Bộ não của chúng ta được kết nối để tập trung vào nội dung cụ thể của những gì đang xảy ra chứ không phải bối cảnh. Bằng cách mở ra và nhìn từ giác bao la, chúng ta rèn luyện lại bộ não của mình để mở rộng vượt ra ngoài cảnh báo quá mức quét cho nguy cơ tiềm tang – tập trung vào từng chuyển động cụ thể bên trong hoặc bên ngoài. Khi bạn đang an trụ với giác bao la, một lời khuyên tuyệt vời chỉ đơn giản nói, “Đừng chi tiết hóa”.
Trên thực tế, chúng ta có thể trải nghiệm cảm giác vô ngã và sự kết nối vô biên này như một trạng thái dòng chảy thiết thực cao, giống như chúng ta đang ở trong “vùng”. Bằng cách này, chúng ta siêu vượt từ cảm giác rằng nhận dạng của mình nằm trong đầu sau đôi mắt sang một trải nghiệm bao la hơn nhưng hợp nhất và kết nối với nhau. Khi chúng ta rèn luyện mở lòng giác, chúng ta có thể học cách cảm nhận sự vô biên và sự kết nối với nhau như nhận dạng của mình, nhưng vẫn hợp nhất và dễ cảm với môi trường vật lý của mình. Với cách tiếp cận mở lòng giác, hoạt động của thùy đỉnh giảm nhẹ này không dẫn đến tình trạng say sưa. Thay vào đó, chúng ta thậm chí còn cảm thấy an toàn hơn, thoải mái hơn, nhạy cảm, cởi mở và nhạy bén hơn – giống như một bậc thầy thái cực quyền.
☘Kinh nghiệm chung là gì?
Điều quan trọng cần lưu ý là trong nghiên cứu thiền của Newberg, ba khía cạnh của kinh nghiệm đều giống nhau cho cả các nữ tu và Phật tử tham gia, trong khi một phạm vi thì khác. Ba khía cạnh chung là: 1) Hình ảnh quét SPECT trong khi thiền, 2) những thay đổi chủ quan ngay lập tức trong tri giác và gia tăng phẩm chất tích cực, 3) khả năng gián tiếp để tiếp cận những thay đổi này một cách có chủ ý trong cuộc sống hàng ngày.
Một điểm khác biệt chính giữa những người tham gia là cách hiểu nguyên nhân chính của những trải nghiệm của họ. Mặc dù cả hai nhóm đều nói rõ ràng những phẩm chất tương tự nhau, nhưng mỗi nhóm sử dụng ngôn ngữ truyền thống của riêng họ để tường thuật và giải thích những kinh nghiệm của họ. Ví dụ, các thiền giả Phật giáo có thể nói, “Tôi cảm thấy như mình là một phần của mọi người và vạn vật hiện hữu”. Ngược lại, một trong những nữ tu Công giáo mô tả có “cảm giác gần gũi hiển nhiên với Thượng Đế và hòa nhập với Ngài”. Mỗi người người đã xem và mô tả trải nghiệm của họ thông qua các lăng kính hệ thống niềm tin của truyền thống tôn giáo của họ.
Điều thú vị là sau khi Tiến sĩ (TS.) Newberg công bố kết quả nghiên cứu của ông, TS. đã nhận được thư từ các nhà khoa học khẳng định rằng nghiên cứu của ông đã chứng minh niềm tin của họ vào chủ nghĩa duy vật, xác nhận rằng mọi kinh nghiệm tâm linh đều có thể quy về hoạt động của não bộ. Tuy nhiên, TS. cũng nhận được nhiều lá thư từ những hành giả tôn giáo tuyên bố rằng nghiên cứu của ông là bằng chứng cho thấy các con người “được kết nối mạnh mẽ với Chúa” về mặt sinh học.
Thay vì tham gia thảo luận về sự khác biệt giữa các con đường thiền hoặc các diễn giải triết lý, trong cuốn sách này, chúng ta sẽ tập trung vào các thực hành hiệu quả dẫn đến các lợi ích chung. Người ta nói rằng khi Đức Phật lần đầu tiên thức tỉnh, Ngài thất vọng về việc diễn đạt sự chứng ngộ của mình thành lời và dạy nó cho những người khác. Cuối cùng, khi Ngài quyết định thử truyền đạt những gì Ngài đã giác ngộ, Ngài đã dùng mô hình y khoa của thời đại Ngài thay vì ngôn ngữ tôn giáo. Ngài nói về con đường giải thoát khổ đau bằng cách hỏi: 1) Bệnh tật là gì? Chẩn đoán đã nhận ra bệnh tật và bản chất của bệnh tật; 2) Nguyên nhân là gì? Căn nguyên đã xác định các nguyên nhân gây bệnh; 3) Cách chữa trị là gì? Tiên lượng bệnh đã xác định được cách chữa khỏi bệnh; 4) Phương pháp điều trị là gì? Đơn thuốc đưa ra sự điều trị cho căn bệnh có thể mang lại sự chữa trị.
Câu chuyện ngụ ngôn của Phật giáo minh họa rõ nhất cho cách tiếp cận thực tế này kể về một người bị mũi tên tẩm độc bắn trúng. Người đó có thể tập trung vào việc ai đã tạo ra mũi tên, nguồn gốc của nó là gì, hoặc thậm chí là ai đã bắn nó; hoặc người đó có thể nhận điều trị vết thương trước. Nếu anh ta khăng khăng đặt câu hỏi về nguồn gốc của mũi tên trước khi được điều trị, anh ta có thể chết trước khi nhận được bất kỳ câu trả lời nào. Trên thực tế, người ta nói rằng Đức Phật sẽ không bao giờ tham gia vào các cuộc thảo luận thần học. Thay vào đó, Ngài nói “Tôi dạy một điều và một điều duy nhất: đau khổ và sự chấm dứt đau khổ”. Các thực hành giác nâng cao nhất dường như tác động bất kể niềm tin về các nguyên nhân tối thượng. Nếu chúng ta có thể học hỏi những điểm phức tạp của tâm thức con người theo cách chúng ta đã học nhân sinh học, chúng ta có thể giảm bớt khổ đau và tăng cường phúc lợi cho cá nhân và xã hội