ĐẠI NGUYỆN THỨ TÁM: THƯỜNG THEO HỌC PHẬT (THEO HỌC ĐẠO VỚI BẬC TRÍ GIẢ)
TRÍCH: MƯỜI ĐẠI NGUYỆN CỦA BỒ TÁT PHỔ HIỀN
Tác giả: Đại sư Tinh Vân
Chân Như Pháp Dịch
Nhà Xuất Bản Dân Trí – 2024
Ảnh nguồn internet
☘☘☘☀☘☘☘
“Vị lai nhất thiết thiên nhân sư
Nhất thiết ý lạc giai viên mãn
Ngã nguyện phổ tùy tam thế học
Tốc đắc thành tựu đại Bồ đề”.
Dịch nghĩa:
Tất cả đạo sư của trời người đời vị lai
Nguyện tất cả chí nguyện đều viên mãn
Con nguyện ba đời theo học Phật
Nguyện mau chứng đắc đạo Bồ đề.
Trong phẩm Thiện tri thức, kinh Tăng Nhất a hàm nói, một vị thiện tri thức tốt có thể đem đến cho chúng ta lòng tin, hiểu pháp, bố thí, trí tuệ và trì giới. Ngược lại, nếu như gặp được ác tri thức thì chúng ta sẽ gây tạo nhân duyên xấu ác, suốt đời đều ở trong bóng đêm u tối, như “một người mù mà dẫn một nhóm người mù thì chắc chắn sẽ rơi vào hầm lửa”. Vì thế, học tập Phật và có thể tu hành theo giáo pháp của Phật, sẽ như một ngọn hải đăng chỉ dẫn cho chúng ta mục tiêu, phương hướng để đi ra khỏi biển khổ sinh tử mênh mông này.
Thường theo học Phật có nghĩa là “theo học đạo với bậc trí giả”. Khi Đức Phật còn tại thế, chúng ta có thể theo Ngài học, nhưng sau khi Phật diệt độ rồi thì chúng ta sẽ theo ai để học đây? Phật hiện ở đâu? Làm sao để có thể thường theo Phật để học? Nói theo nghĩa rộng, mỗi người đều là một vị “Phật”, đều đáng được chúng ta học tập, cho nên nói “trong ba người đi cùng, sẽ có một người là thầy của ta”, “người ngu một ngàn lần suy nghĩ cũng sẽ có được một lần đúng”. Nói theo nghĩa hẹp, đối tượng mà chúng ta muốn học tập phải có đủ đạo đức, trí tuệ, năng lực. Đương nhiên, tiến thêm một bước chúng ta cũng nên là người tốt, người thiện tri thức của chính mình, khai phát tinh thần từ bi, siêng năng, phục vụ cống hiến, khai phát chân như tự tính để sống cuộc sống tốt đẹp của chính mình.
1. Chúng ta học tập những gì ở Phật thế gian?
Hai ngàn sáu trăm năm trước, mười vị đại đệ tử và 1.250 vị Đại tỳ kheo đều là chúng đệ tử thường theo Phật để tu học, do vì thường đi theo bên cạnh Phật cho nên mỗi một người đều có chỗ chứng đắc. Đức Phật tại thế gian hoằng pháp 49 năm, lưu dấu chân khắp nơi ở Ấn Độ, Ngài đã vì ai mà thuyết pháp, làm thế nào để giáo hóa? Làm thế nào chúng ta có thể học hỏi từ Đức Phật và các vị đệ tử của Ngài? Đức Phật là ai? Đức Phật là “người thật” không phải là “thần”, do trải qua quá trình tinh tấn tu tập mà Ngài chứng đắc đạo quả. Đức Phật đã từng nói, bản thân Phật và các vị Tỳ kheo khác đều giống nhau, đều là một thành viên của Tăng đoàn, Ngài chưa từng cho mình là người lãnh đạo. Chẳng qua, vì Ngài đã viên mãn về phúc đức, trở thành bậc Thánh nhân “Tam giác viên, vạn đức cụ” nghĩa là viên mãn là tự giác, giác tha và giác hạnh, vì trăm ngàn phúc đức viên tròn, đại chúng tự nhiên sẽ xem Ngài là bậc thầy vĩ đại là nơi nương tựa vững chắc để tu học.
Trong kinh điển, chúng ta có thể nhìn thấy Đức Phật dùng thân giáo và ngôn giáo để làm hình mẫu cho việc giáo hóa đệ tử qua các phương diện cuộc sống, tu hành và công việc. Như khi mở đầu kinh Kim Cương có câu: “Khi đó, Đức Thế Tôn đến giờ ăn, đắp y cầm bình bát, đi vào thành Xá Vệ khất thực. Trong thành lần lượt khất thực, xong trở về lại chỗ cũ. Ăn cơm xong, thu dọn cất bát, rửa chân, trải tòa mà ngồi”, đây là thân giáo của Đức Phật trong sinh hoạt hằng ngày. Ngày thường khi đi giáo hóa, nghỉ ngơi hay khi ăn cơm Ngài đều mặc y áo ngay ngắn trang nghiêm, oai nghi, cử chỉ an tường, tay cầm bình bát, lần lượt đi khất thực, không phân biệt sang hèn, không chọn lựa vật tinh hay thô, bình đẳng tùy nhân duyên. Khi ăn cơm xong, Ngài tự mình đứng lên chỉnh trang y áo và thu cất bình bát, vật dụng, v.v. sau đó thì rửa chân, chuẩn bị ngồi thiền và thuyết pháp. Tuy cách sinh hoạt và nghỉ ngơi thật bình thường, nhưng trên thực tế những cử chỉ tưởng chừng như bình thường ấy lại là việc tu trì thể hiện tròn đủ các pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định. Có thể nói, Đức Phật là hình mẫu chuẩn mực cho việc “Phật pháp sinh hoạt hóa và sinh hoạt hóa Phật pháp”, nghĩa là, tu học Phật pháp trong việc ăn cơm, nghỉ ngơi, sinh hoạt thường ngày. Sau đây tôi sẽ đưa ra một số việc sinh hoạt thường ngày rất bình dị gần gũi của Đức Phật.
1.1. Từ bi
Đệ tử Phật có bệnh, Đức Phật sẽ tự thân đến thăm hỏi, an ủi và nói pháp khai thị. Trong luật Tứ phần có nói: “Thế Tôn đỡ vị Tỳ kheo bị bệnh ngồi dậy, lau dọn chỗ nằm và tắm rửa cho vị ấy, tắm rửa xong lại giặt y áo đem đi phơi khô.” Có người không hiểu sẽ có nghi hoặc: Đức Phật có thật làm việc như thế không? Đại sư Huyền Trang trong Đại Đường Tây Vực ký đặc biệt có ghi lại: “Ở phía Đông Bắc vườn Cấp Cô Độc có một tháp (Stupa) là nơi Đức Phật tắm rửa cho vị Tỳ kheo bị bệnh”, có thể chứng minh cho sự thật này.
Các việc khác như, Đức Phật đã xâu kim cho vị Tỳ kheo hai mắt bị mờ hay bởi A Na Luật bị mù mắt mà may ba tấm y cho Ngài ấy, đó đều là những việc thân giáo thể hiện tính từ bi của Đức Phật, cũng là “Sự chân thành, lòng từ bi yêu thương có thể cảm hóa được lòng người”. Đức Phật với uy nghi trang nghiêm và lòng từ bi cảm thương tất cả chúng sinh đã xây dựng nên một hình mẫu cho hàng đệ tử trong việc tu hành và xuất gia tu đạo.
1.2. Tinh tấn
Trong bộ Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ nại da có ghi: “Tại rừng Thệ Đa (Jeta), Đức Thế Tôn nhìn thấy nơi đó có nhiều rác liền tự tay cầm chổi quét rác trong vườn”, ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và các đệ tử khác nhìn thấy Đức Phật tự thân đi quét rác vội vàng cầm chổi cùng nhau quét dọn cả khu vườn.
Người thế gian cho rằng Phật pháp là điều vi diệu khó hiểu, đâu có ngờ quét rác cũng là một việc tu hành Phật pháp. Đối với những chúng sinh đần độn ngu muội, căn tính trì độn như ngài Châu Lợi Bàn Đà Dà, Đức Phật kiên nhẫn chỉ dạy cho ngài vừa quét rác vừa chú tâm mà niệm “quét rác, trừ cáu bẩn” khiến cho ngài Châu Lợi Bàn Đà Dà từ việc chuyên tâm quét rác mà ngộ được đạo. Có thể thấy, quét rác không chỉ là một cách tu học, mà lại có công đức lớn không thể nghĩ bàn được.
Trong quá trình Phật Pháp được lưu truyền, các chúng đệ tử Phật vì để mọi người tăng thêm lòng tin đối với giáo pháp đã thần thánh hóa Đức Phật, tô vẽ Đức Phật trở thành nhân vật thần thoại đầy quyền năng, phàm làm việc gì đều phải cần phép thuật, mục đích là làm thỏa mãn lòng mong cầu, sự hiếu kỳ của chúng sinh. Kỳ thực, không phải như vậy, trong luật Thập tụng có chép: “Đức Phật ở tại nước A La Tỳ, khi nhìn thấy cái then cài cửa bị hỏng, bèn đích thân tự sửa chữa”, tuy nhiên, Đức Phật là người đã liễu ngộ được vạn pháp trong vũ trụ nhân sinh, là bậc trí giả giải thoát mọi phiền não, nhưng dù chỉ là một cái then cài cửa bị hỏng, Ngài cũng tự mình làm lấy. Có thể thấy, Đức Phật là một nhân vật lịch sử có thật trên thế gian, Ngài là một hành giả trí tuệ nhưng tất cả những việc lớn việc nhỏ, sang hay hèn trong cuộc sống đều không phân biệt, nếu có thể làm được thì vẫn tự mình làm lấy.
1.3. Tinh thần nhận lỗi
Mỗi khi kết thúc khóa an cư kiết hạ, Đức Phật tự rời khỏi tòa ngồi, đến nơi đất trống giữa chúng đệ tử và nói ba lần rằng: “Đại chúng, trong ba tháng an cư, tôi xin làm lễ Tự tứ với chư Tăng. Ba nghiệp thân khẩu ý của tôi nếu quý ngài có thấy, nghe hoặc nghi những điều gì xin quý ngài hãy từ bi chỉ ra, để tôi thực hành sửa đổi cho được sự lợi ích”.
Nghĩa là tất cả mọi người trong Tăng đoàn đều bình đẳng, nếu ai có phạm lỗi thì nên tự giác “nhận lỗi”, nêu ra lỗi của mình rồi xin sám hối trước đại chúng, ngay cả Đức Phật, bậc trí giả tối thắng cũng không ngoại lệ. Khi nghe những lời như vậy thì hàng đệ tử Phật lại không trừ bỏ những kiêu mạn, mà tự ý thức phản tỉnh hay sao?
Con người không ai là không từng mắc sai phạm trong đời, có khi phạm sai lầm là do bản thân nhất thời sơ suất, biết như vậy thì không nên làm cho sai lầm đó lớn thêm. Nhưng, nếu như không biết nhận sai lầm, vừa phạm lại tiếp tục phạm nữa thì hậu quả sẽ càng ngày càng lớn. Cho nên, sự an hay nguy, thành công hay thất bại của một người, thường có quan hệ rất mật thiết với việc có biết nhận ra lỗi lầm và biết sửa đổi hay không. Trong lịch sử Trung Quốc có một câu nói nổi tiếng về việc dĩ hòa vi quý “Tướng tướng hòa”. Đó là câu chuyện Lạn Tương Như một vị danh tướng của nước Triệu có thể “vì việc nước mà nhẫn nhịn vị võ tướng Liêm Pha”, nên được người đời sau tôn kính. Nhưng Liêm Pha cũng là người biết nhận sai, ông ta đã tự đem roi, cởi trần đến trước Lạn Tương Như để xin nhận tội, cả hai sự việc trên đã được lưu danh ngàn đời.
1.4. Tinh thần bình đẳng
Đức Phật không chỉ dùng thân giáo, ngôn giáo của bản thân để làm khuôn mẫu giáo hóa các đệ tử, Ngài còn thận trọng từ lời nói, cử chỉ hành động sao cho đúng pháp, đúng oai nghi, trên cho đến vua chúa, dưới đến người dân trăm họ, Đức Phật đều tùy theo nhân duyên mà giáo hóa. Giống như Ni Đề là một người thuộc giai cấp tiện dân trong độ giai cấp của Ấn Độ xưa, ngày thường làm nghề quét dọn, gánh phân. Có một hôm trên đường đi Ni Đề lại gặp được Đức Phật, vì biết mình là giai cấp hạ tiện nên ông có ý tránh đường, Đức Phật thấy vậy liền lớn tiếng gọi “Ni Đề, không nên tránh ta, ông gánh phân vất vả rồi! Để tôi gánh giúp ông một đoạn đường”. Ni Đề trong lòng rất cảm động, bèn quỳ xuống, nước mắt chảy dài, ngay lúc đó ông quy y với Đức Phật và trở thành đệ tử của Ngài.
Ngoài ra, trong mười vị đại đệ tử, Tôn giả Đại Ca Diếp là người tu khổ hạnh rất nghiêm ngặt, từ xưa đến nay không bao giờ ngài đi đến nhà giàu có để khất thực. Ngài cho rằng, người giàu là do phúc báo bố thí cúng dường của đời trước mà nay được hưởng, họ vốn đã rất giàu rồi, không nên vì họ mà gieo trồng ruộng phúc nữa? Vì thế, ngài thường đến những ngôi nhà nghèo khổ để khất thực, trong lòng chỉ muốn cho người nghèo gieo trồng thêm ruộng phúc.
Ngài Tu Bồ Đề, được xem là “Đệ nhất giải không” lại trái ngược với Tôn giả Đại Ca Diếp. Ngài Tu Bồ Đề cho rằng, những người nghèo khó bản thân họ còn không lo đủ ba bữa ăn no, làm sao mình còn làm tăng thêm sự khó khăn cho họ, vả lại nhà người giàu dù có bố thí thì chỉ bớt chút của cải cũng không thể làm họ nghèo đi được. Vì tâm niệm như thế ngài lại thường đến nhà giàu để hóa duyên khất thực.
Sau khi Đức Phật biết hành động cực đoan của hai người họ liền gọi tất cả đại chúng đến để khai thị rõ về việc này: “Khất thực nhà giàu hay khất thực nhà nghèo, đều là tâm không bình đẳng. Phật pháp là phải được thiết lập trên tinh thần bình đẳng, cho dù trên thế gian đầy những đối đãi sai biệt nhưng tâm của chúng ta phải đặt trên sự bình đẳng, trong pháp bình đẳng bố thí mới có thể đem lại sự phúc đức bình đẳng cho mình và mọi người”.
1.5. Hòa bình
Vua A Xà Thế nước Ma Kiệt Đà vì đã có sự kết giao với tộc Bạt Kỳ ở phương Bắc và muốn phát động chiến tranh, đặc biệt phái đại thần Vũ Thế đi thỉnh ý của Đức Phật. Đức Phật liền hiểu ý của đại thần Vũ Thế, không vội vàng, Ngài khéo léo thông qua lời đối thoại với Tôn giả A Nan để nói rõ nước Bạt Kỳ hiện tại vốn có bảy pháp hưng thịnh, không thể vong. Vũ Thế khi nghe xong, đã hoàn toàn lĩnh hội ý của Đức Phật bèn đỉnh lễ rồi lui về trình bày với vua A Xà Thế, sau đó, vua A Xà Thế đã hiểu được ý của Đức Phật, không còn có ý phát binh đi đánh nước Bạt kỳ. Đức Phật nói về “Bảy pháp không suy thoái”, mà có thể ngăn cản trận chiến tranh sắp xảy ra giữa hai nước.
Phật giáo là một tôn giáo rất tôn trọng hòa bình. Đức Phật đã giác ngộ được lý Duyên khởi, chân lý của nhân sinh vũ trụ, một pháp cũng là tất cả pháp, sự sống của vạn vật trong vũ trụ vạn là một thể chung nhất, chúng qua lại tương duyên tương sinh với nhau, trong anh có tôi, trong tôi có anh, mỗi sự tồn tại của một sinh mạng đều là sự nuôi dưỡng, hỗ tương của tất cả các sự sống khác. Như trong kinh Kim cương có nói: “Pháp là bình đẳng, không có cao thấp” trong Phật tính bình đẳng, có thể yêu thương tôn trọng mà không xâm phạm lẫn nhau, như thế hòa bình mới có thể thực hiện được trong tương lai.
Có thể nói, Đức Phật xuất hiện ở trong nhân loại, lời thuyết pháp của Ngài đều không ngoài việc giáo hóa cho chúng sinh. Trong mười hiệu của Phật có “Chính biến tri” và “Thế gian giải” nghĩa là, Ngài có thể hiểu biết chân chính tất cả pháp, có thể nhận thức rõ ràng và lý giải thật tướng của vạn pháp ở thế gian và xuất thế gian. Cho nên, đối với trưởng giả, Ngài sẽ nói về “Đức của trưởng giả” như dòng quý tộc, địa vị cao, giàu có, dũng mãnh, trí tuệ, v.v. Đối với trẻ em, Ngài nói về “Bốn việc không thể khinh”, vị hoàng tử nhỏ, con rồng nhỏ, đốm lửa nhỏ và vị Tỳ kheo nhỏ tuổi. Đối với bạn bè, Ngài dùng “Bốn phẩm chất của tình bạn” bạn như hoa, bạn như cân, bạn như núi và bạn như đất, để giải thích cho việc kết giao bạn bè. Đối với vợ chồng, Ngài sẽ dùng “Chim cộng mệnh” nói lên mối nguyện ước nhân duyên của hai người, nguyện sống mãi bên nhau dù sống chết cũng không xa lìa. Ngoài ra, đối với thương nhân, Đức Phật sẽ nói với họ về “Phương pháp kinh doanh”. Đối với vua chúa đại thần thì nói “Đạo trị nước”; đối với nông phu thì nói về “Cách thức gieo trồng”, v.v.
Tóm lại, ngoài các pháp đoạn ác tu thiện, Đức Phật còn giảng về luân lý gia đình, bảo hộ động vật, quản lý giáo dục, quản lý tài chính, việc dưỡng sinh, v.v. Đức Phật không việc gì không biết, không việc gì là không thể lý giải. Bởi vậy, có thể nói Ngài biết bệnh mà cho thuốc, quán sát nhân duyên mà giáo hóa, khiến cho tất cả những người đến cầu pháp đều có thể hoan hỷ và đạt được ích lợi.
Thường theo Phật để học, chúng ta nên học những gì từ Đức Phật? Trong Phật truyện hay Tam tạng mười hai bộ kinh, Đức Phật giảng rõ về Tam pháp ấn, Tứ thánh đế, Mười hai nhân duyên, Lục độ, Tứ nhiếp pháp, vv. Đó đều là nguyên tắc mà chúng ta phải học tập và ứng dụng để cuộc sống viên mãn. Chúng ta cũng có thể quan sát, học tập trí tuệ thiết thực từ nhiều mặt, dù ở tầng lớp, giai cấp nào hay ở bất cứ đâu trong xã hội. Đây đều là những hình mẫu của Phật giáo nhân gian trong xã hội hiện nay.
Từ khi xuất gia đến nay, vì lòng tin nên tôi luôn lấy Đức Phật làm tấm gương để suốt đời tu học theo hạnh của Ngài. Học cách Ngài dùng thân giáo làm chuẩn tắc, học theo kiến thức rộng lớn, học hạnh từ bi hỷ xả, cách xem người khác như chính mình, học cách giáo hóa không phân biệt, không mệt mỏi, học theo Ngài về pháp khôn khéo và tiện lợi, v.v. Tôi không dám nói là đã học hết tất cả, nhưng tất cả những điều đó đã trở thành một nhân tố nuôi dưỡng cuộc sống và việc làm của tôi. Tôi luôn tin thái độ học tập cần mẫn, chuyên tinh của bản thân sẽ luôn xứng đáng là người đệ tử của Đức Phật.
2. Chúng ta học gì ở những bậc thiện tri thức?
Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có thể trở thành Phật, vì thế Phật có nghĩa là tất cả chúng sinh đều là Phật, tất cả thiện tri thức đều là Phật, đều là những bậc trí giả có thể giúp chúng ta tu hành và học tập. Người như thế nào mới có thể được gọi là thiện tri thức? Trong Pháp hoa văn cú có nói: “Nghe nhiều là tri, thấy biết nhiều là thức”, người mang lại lợi ích cho con đường học đạo Bồ đề của chúng ta gọi là thiện tri thức. Có thể nói, người có thể dẫn dắt chúng sinh tu tập thiện pháp, xa lìa ác pháp đều là thiện tri thức.
Làm thế nào để chúng ta có thể tìm được thiện tri thức? Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm có nói, Thiện Tài đồng tử đi tham vấn 53 vị thiện tri thức, đó là một tấm gương cho hàng đệ tử Phật noi theo khi mong muốn tìm cầu giáo pháp. 53 lần tham vấn của Thiện Tài đồng tử cũng cho thấy, trong quá trình học Phật phải hạ mình khiêm tốn, thân cận thiện hữu tri thức, vả lại đối tượng mà chúng ta học không phải một vị thầy cố định hay là một nơi nào cố định, chỉ cần ở bất cứ đâu, cho dù là ngoại đạo, cũng không ngại đến đó để học hỏi. Vì thế, Thiện Tài đồng tử khi được sự chỉ giáo của Bồ tát Văn Thù, bắt đầu tham vấn từ Tỳ kheo Công Đức Vân, rồi lần lượt tham vấn, học hỏi với các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, bác sĩ, người lái thuyền, nhà vua, vương phi, dâm nữ, v.v. sau cùng lại được hạnh nguyện rộng lớn của Bồ tát Phổ Hiền. Tinh thần cầu học cởi mở khoáng đạt này, thực rất đáng cho chúng ta học tập.
Trong kinh Hoa nghiêm nói rằng: “Phật pháp mà không có người giảng thuyết thì dù là người trí tuệ cũng không thể liễu ngộ được, giống như vật báu ở trong chỗ u tối, không có đèn sáng thì không thể nhìn thấy”. Chính vì vậy, thiện tri thức là người rất quan trọng trong con đường tu học của chúng ta, như ngọn hải đăng trong biển lớn, có thể chỉ dẫn phương hướng chính xác, cho nên trong kinh điển, có rất nhiều ví dụ và cách nói về thiện tri thức. Trong luận Du già sư địa có nói bậc thiện tri thức có tám điều như sau:
Một, an trụ cấm giới: Lời nói, hành động, cử chỉ phải uy nghi như pháp.
Hai, học nhiều hiểu rộng: Học thức uyên bác, giỏi khai diễn ý nghĩa của Pháp.
Ba, có chỗ chứng đắc: Có thật tu thật chứng, có lòng từ, bi, hỷ, xả.
Bốn, có nhiều tâm từ mẫn: Có tâm biết thời thế nhiễu nhương mà thương nỗi thống khổ của người dân.
Năm, tâm không chán mỏi: Vì đại chúng tuyên giảng chính pháp không biết mệt mỏi.
Sáu, có thể kham nhẫn: Khi gặp khó khăn, có thể nhẫn chịu mà không than, không oán.
Bảy, không có sợ hãi: Có phong thái kiên định sáng suốt, có thể khiến đại chúng không có sợ hãi.
Tám, lời nói viên mãn: Khéo dùng lời nói tốt đẹp để làm cho người nghe được hoan hỷ.
☘☘☘☀☘☘☘
