MỐI LIÊN KẾT VỚI BẢN THÂN TÁC ĐỘNG ĐẾN TIỀM NĂNG CỦA BẠN

Trích: Con Đường Đến Hạnh Phúc: Cách áp dụng khoa học về hạnh phúc để đưa đến thành công/ Emma Seppälä; Đồng Khôi dịch, Anh Nhơn hiệu đính. Thái Hà Books, NXB Thế Giới; 2024.
05/03/2026
11 lượt xem

🍀🍀🍀

“Suốt đời không cho mình là lớn, cho nên thành được việc lớn của mình.” (1)

— Lão Tử

🍀🍀🍀

Cô bạn Laura của tôi dường như có tất cả: tóc bạch kim, xinh đẹp, khỏe khoắn, rạng rỡ và thông minh. Cô là một trong những sinh viên hiếm hoi toàn đạt điểm A và A+ tại Đại học Yale. Dường như cô là hình mẫu của sự thành công. Trong nhóm các sinh viên có học lực giỏi, cô ấy vượt trội hoàn toàn.

Sau hai năm tại đại học, Laura bỏ học dù đạt nhiều thành tích.

Laura có đủ kỹ năng và động lực để học tốt tại Yale, nhưng cách cô nhận thức về bản thân lại đang cản trở sự thành công. Laura đã luôn là sinh viên đạt điểm A, cô vốn như vậy từ rất lâu rồi. Cô thấy mình phải hoàn hảo và vô cùng sợ thất bại, vì thế cô chỉ học những lớp mà biết chắc mình sẽ đạt điểm cao. Khi học không giỏi hay vất vả lắm mới đạt điểm cao nhất trong tất cả các lớp mình tham gia, điều chắc chắn rồi sẽ xảy ra ở bậc đại học, cô càng nghiêm khắc với bản thân nhằm thúc đẩy mình cố gắng hơn nữa và giữ cho tâm trí luôn tập trung. Được tiếp sức vì niềm tin đó, Laura đã đạt được những điểm số tuyệt đối… cùng nỗi đau khổ cùng cực. Laura nói với tôi: “Tôi nhớ mình lúc nào cũng thấy suy sụp và tự chỉ trích bản thân”. Cuối cùng, cô bị lo âu, trầm cảm nặng đến mức không thể tiếp tục học được nữa.

Điểm gì tạo nên khác biệt giữa người vững vàng tiến bước với người mất hết tinh thần khi gặp phải những khó khăn trong đời sống và thách thức trong công việc? Đó là cách họ liên kết với bản thân; đặc biệt là điều họ nghĩ về bản thân và cách họ đối xử với chính mình.

Sự thật là, hầu hết chúng ta đều không tử tế với bản thân khi mưu cầu thành công. Chúng ta được dạy rằng để thành công, chúng ta cần dựa vào ưu điểm của mình, thế nên tốt nhất là chúng ta nên tìm ra những điều mà bẩm sinh chúng ta đã giỏi và tập trung vào chúng, vì chúng ta khó có thể khắc phục được điểm yếu của mình. Nếu tôi kém toán, có lẽ tôi không nên học ngành kế toán hay kỹ thuật. Nếu tôi không phải kiểu người thích giao tiếp, tốt nhất tôi nên tránh xa việc bán hàng. Và khi chúng ta thực sự đụng phải điểm yếu của mình, chúng ta thấy mình phải tự chỉ trích bản thân. Tự chỉ trích bản thân sẽ giúp chúng ta thành thật về những yếu kém của mình và đảm bảo chúng ta luôn có động lực và luôn cảnh giác. Bằng cách luôn đòi hỏi mình phải tốt hơn, chúng ta sẽ luôn tận lực.

Những nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy những ý tưởng này là sai lầm. Biết ưu, nhược điểm của mình hiển nhiên là tốt. Tuy nhiên, cách bạn ứng xử với chúng có thể giúp bạn thành công hay thất bại. Cách bạn nhìn nhận bản thân (bạn có tin rằng ưu điểm của mình có giới hạn không?) và cách bạn phản ứng trước thất bại (bạn chỉ trích mình thậm tệ, hay sẽ cư xử với mình như với một người bạn?) tác động to lớn đến đời tư và sự nghiệp của bạn.

Khi hiểu rằng bạn có thể xây dựng những ưu điểm mới thay vì chỉ giới hạn mình ở những ưu điểm hiện có, biết nhân từ với mình hơn là chê trách bản thân, bạn sẽ vững vàng khi gặp thất bại, sẽ học hỏi và trưởng thành từ những sai lầm của mình và phát hiện những cơ hội mà bình thường bạn sẽ không bao giờ tìm thấy. Kết quả là, bạn sẽ thấy biết ơn, thấy hạnh phúc hơn rất nhiều, cơ hội thành công cũng tăng lên gấp bội.

🍀🍀🍀

HIỂM HỌA TỪ VIỆC DỰA VÀO ƯU ĐIỂM

Chúng ta thường cho rằng những ưu điểm đặc biệt là điều tạo khác biệt giữa những người phi thường, chẳng hạn như danh ca, tác giả sách bán chạy nhất, diễn viên điện ảnh nổi tiếng hoặc tỷ phú tự thân, với số đông còn lại. Chúng ta nghĩ những người này được trời ban cho năng khiếu đặc biệt. Họ có thể có khiếu kinh doanh, khiếu nghệ thuật hoặc một “tố chất đặc biệt” nào đó. Chúng ta tin rằng ưu điểm vốn có khiến họ khác biệt và giúp họ thành công. Ngược lại, nếu số đông còn lại không đạt được tầm cao như họ thì đó là do chúng ta thiếu những năng khiếu như vậy. Bạn có thể có “tố chất đặc biệt”, cũng có thể không có, dù thế nào thì chúng ta cũng chẳng thể làm gì khác được.

Chúng ta nghĩ về ưu điểm của mình tương tự vậy. Ví dụ, bạn có thể nghĩ mình có năng khiếu toán học hoặc không, có giỏi giao tiếp hoặc không, có óc sáng tạo hoặc không. Rốt cuộc, bạn vẫn tin thành công của mình được định sẵn bởi khả năng và năng khiếu bẩm sinh mà bạn may mắn có được. Bạn chỉ việc chơi quân bài đã được chia mà thôi.

Tuy nhiên, tin rằng mình sinh ra với ưu điểm nào đó, định sẵn mình sẽ đạt hay không đạt được điều gì, gây phản tác dụng nghiêm trọng lên chúng ta, đặc biệt khi chúng ta gặp phải thất bại hoặc thử thách. Nhà tâm lý học phát triển(2)Carol Dweck của Đại học Stanford đã tiến hành nghiên cứu về niềm tin vào bản thân của trẻ em và người lớn trong hàng chục năm qua. Lúc mới vào nghề, Dweck nhận thấy học sinh khi không giải được một bài toán khó có thể có hai phản ứng hoàn toàn trái ngược: hoặc là chúng thối chí bỏ cuộc, và chẳng học thêm được gì; hoặc là chúng càng hăng giải toán tiếp, và học thêm kỹ năng mới. Điều gì khiến bọn trẻ phản ứng như thế? Nếu bọn trẻ tin vào ưu điểm vốn có, nghĩa là, nếu bọn trẻ tán đồng cái lý thuyết thành công sai lầm mà tôi đã mô tả ở trên, và khi chúng không thể giải quyết vấn đề, thì chúng sẽ cho rằng mình không có năng khiếu về lĩnh vực đó rồi bỏ cuộc. Chúng không chỉ chẳng học được kỹ năng gì từ việc giải toán, chúng còn cảm thấy tệ hơn về khả năng toán học và về bản thân mình.

Qua hàng chục năm nghiên cứu về nhiều tình huống thất bại, Dweck đã chỉ ra rằng hiện tượng tâm lý bà quan sát thấy ở trẻ em mang tính phổ quát và gây suy nhược không kém dù ở bất cứ độ tuổi nào. Khi gặp thử thách hay thất bại, với một kỹ năng mới, một mối quan hệ, hay một công việc chẳng hạn, bạn thường cho rằng mình không có tài làm việc đó. Khi gặp thất bại, bạn bỏ cuộc và sức khỏe tinh thần của bạn sẽ bị ảnh hưởng. Tại sao vậy?

Tin vào ưu điểm dẫn đến lập luận sau: “Nếu tôi không xây dựng thành công một mô hình tài chính, thì điều đó cho thấy tài chính không phải là ưu thế của tôi. Có lẽ tôi không nên làm việc trong lĩnh vực này”. Tự nhận mình “tệ” ở một việc bạn bị thất bại, bạn thấy mất hết hy vọng về khả năng của mình trong lĩnh vực đó, ngăn không cho bạn học hỏi từ sai lầm và phát triển kỹ năng mới. Nếu ngưng không làm tiếp bất cứ gì ngoài ưu thế của mình, thì bạn không thể mở rộng phạm vi kiến thức hoặc năng lực của bản thân.

Niềm tin kiểu này có thể đặc biệt gây tác hại đến nghề nghiệp nếu bạn làm trong một lĩnh vực luôn thay đổi và phát triển như nhiều người trong chúng ta gặp phải. Ví dụ: nếu ngành nghề của bạn đang mở rộng sang Trung Quốc hoặc Nhật Bản, bạn có thể muốn học thêm những ngôn ngữ này. Tuy nhiên, nếu có niềm tin rằng mình không có ưu thế về ngoại ngữ sẽ khiến bạn thậm chí còn không muốn thử. Điều bạn tin hẳn nhiên thành lời tiên tri tự ứng nghiệm. Rất có thể, kiến thức và kỹ năng của bạn sẽ mãi bị bó hẹp trong những lĩnh vực đời sống được bạn coi là thế mạnh của mình.

Dĩ nhiên, điều này không có ý nói là bạn không nên làm những việc mình thấy dễ hay những việc phù hợp với thiên hướng của mình. Tuy nhiên, nghiên cứu đã chứng minh một cách thuyết phục rằng bạn không nên để bản thân tin rằng mình bị giới hạn, chỉ có thể làm tốt những việc mình thấy dễ. Bạn có thể còn có tiềm năng to lớn đang chờ được khám phá.

Nếu R. H. Macy cho rằng mình sinh ra không phải để làm kinh doanh sau khi năm cửa hàng đầu tiên do ông thành lập thất bại, thì hẳn ông đã chẳng bao giờ sáng lập được chuỗi cửa hàng Macy’s thành công vang dội như bây giờ. Nếu Bill Gates cho rằng ông không có duyên thành lập công ty khởi nghiệp về máy tính sau khi Traf-O-Data, công ty đầu tiên của ông bị phá sản, thì hẳn ông đã chẳng bao giờ thành lập được Microsoft. Nếu Theodor Seuss Geisel, hay còn được mọi người biết đến như là nhà văn nổi tiếng chuyên viết cho thiếu nhi với bút danh Dr. Seuss, chấp nhận rằng ông là một tác giả tồi sau khi bản thảo của ông bị từ chối đến 20 lần, thì hẳn ông đã chẳng làm nên cuộc cách mạng về văn học dành cho thiếu nhi.

Có lẽ điều quan trọng hơn là, khi bạn chỉ tin vào ưu điểm của mình mà lại gặp thất bại, chẳng hạn như khi không đậu vào trường đại học bạn ưu tiên hàng đầu, không có được việc làm bạn mong muốn, không được cất nhắc vào vị trí bạn tin mình xứng đáng, không có được một cuộc tình tốt đẹp, thì bạn sẽ hoàn toàn sụp đổ. Bạn sẽ mất hết hy vọng vì cho rằng mình chẳng thể làm được gì thêm ở những lĩnh vực đó. Cũng không có gì ngạc nhiên khi các nghiên cứu cho thấy việc tán đồng với quan niệm về ưu điểm gắn với mức độ trầm cảm cao hơn(3), một phần có lẽ là vì nó dẫn đến miệt thị bản thân một cách thậm tệ.

🍀🍀🍀

Chú thích:

(1): ‘ Nguyên văn trong chương 34 Đạo đức kinh của Lão Tử là: Chung bất tự vi đại, cố năng thành kỳ đại, được dịch sang tiếng Anh là When I let go of what I am, I become what I might be. (Người dịch)

(2): Tâm lý học phát triển (Developmental Psychology) tập trung nghiên cứu cách con người thay đổi và phát triển trong suốt cuộc đời. Nghiên cứu khoa học về sự phát triển của con người hướng đến việc tìm hiểu và lý giải cách thức và nguyên nhân con người thay đổi theo thời gian. (Người dịch)

(3): Carol S. Dweck, Self-Theories: Their Role in Motivation, Personality, and Development (tạm dịch: Các lý thuyết về bản thân: Vai trò của chúng trong Động lực, Tính cách và Sự phát triển), New York: Psychology Press, 2000, 44-51; và Carol S. Dweck, “Motivational Processes Affecting Learning” (tạm dịch: Quá trình tạo động lực ảnh hưởng đến việc học), American Psychologist 41 (no. 10) (1986): 1040-48, DOI: 10.1037/0003-066X.41.10.1040.