Tôi vẫn thường xúc động về sự xác nhận của những báo cáo về kinh nghiệm cận tử, vì nó cho thấy rõ ràng sự thật về nghiệp. Một trong những yếu tố chung của kinh nghiệm cận tử – một yếu tố đã gợi nhiều suy nghĩ – là “sự thấy lại toàn cảnh cuộc đời”. Hình như rằng những người trải qua kinh nghiệm này không những thấy lại những chi tiết sống động nhất của cuộc đời đã qua, mà còn có thể chứng kiến những ẩn ý trọn vẹn nhất của những gì họ đã làm. Quả thế, họ kinh qua toàn thể những hậu quả hành động của họ trên người khác, và tất cả những cảm giác mà họ đã khơi dậy trong người khác, có thể là rất kinh khủng.

Mọi sự trong suốt cuộc đời trải ra trước mắt tôi. Tôi hổ thẹn vì nhiều chuyện tôi đã kinh qua, vì lúc đó dường như tôi có một cái biết khác… Không những tôi thấy lại những gì tôi đã làm, mà còn thấy ảnh hưởng việc làm ấy trên người khác… Tôi nhận ra rằng ngay những ý tưởng của ta cũng không mất.

Cuộc đời tôi trải ra trước mắt tôi… mọi cảm xúc tôi đã từng có trong đời, tôi đều cảm thấy. Và mắt tôi chỉ cho tôi thấy cái căn bản là những cảm xúc ấy đã ảnh hưởng đến đời tôi như thế nào. Đời tôi đã làm gì bấy nay để ảnh hưởng đến những cuộc đời người khác…

Tôi chính là những người mà tôi làm thương tổn, và tôi chính là người mà tôi làm sung sướng.

“Đấy là một sự sống lại mọi ý nghĩ tôi đã nghĩ, mọi lời tôi đã nói, mọi việc tôi đã làm; cùng với hậu quả của từng ý nghĩ, lời nói, hành vi của tôi đối với mọi người và bất cứ người nào ở trong tầm ảnh hưởng tôi, dù tôi có biết họ hay không…; cộng thêm hậu quả của mỗi ý nghĩ, lời nói, và hành động tôi đối với thời tiết, cây cối, loài vật, đất, nước, lửa, gió”.

Tôi nghĩ rằng những chứng cứ này đáng được xem xét thực nghiêm túc. Chúng sẽ giúp tất cả chúng ta nhận chân được những hành ẩn của hành động, lời nói và ý nghĩ của chúng ta, và buộc chúng ta trở nên có trách nhiệm. Tôi đã để ý rằng nhiều người cảm thấy bị đe dọa trước thực tại về nghiệp, vì họ bắt đầu hiểu được họ không thể thoát khỏi định luât tự nhiên của nó. Có nhiều người tuyên bố họ coi thường nghiệp, nhưng tận tâm để, họ vẫn có những hoài nghi sâu xa về sự phủ nhận của họ. Ban ngày họ có thể hành động hoàn toàn coi khinh đạo đức, nhưng khi một mình ban đêm, tâm họ thường u ám và giao động.

Cả Đông lẫn Tây đều có những lối đặc biệt đưa cái cách họ hiểu về “nghiệp” ra để tránh né trách nhiệm. Ở phương đông người ta dùng nghiệp để làm cái cớ khỏi giúp đỡ người khác, bảo rằng, người nào khổ là do cái “nghiệp” của họ. Trong thế giới “tư tưởng tự do” ở phương tây, thì ngược lại, những người Tây phương tin vào nghiệp có thể nhạy cảm và cẩn thận quá lố, và bảo rằng thực sự nếu ta giúp người nào tức là can thiệp vào cái nghiệp của họ, một cái gì họ phải tự lo liệu lấy cho mình. Thật là một cách né tránh phản lại lòng nhân đạo! Có lẽ ta nên cho rằng cái nghiệp của chúng ta là tìm cách giúp đỡ họ. Tôi biết nhiều người giàu có: Tài sản họ có thể tàn phá họ, khi họ làm tăng thêm thói ích kỉ và lười biếng; nhưng họ cũng có thể tóm lấy cơ hội mà tài sản đem lại để giúp đỡ người khác, và khi làm thế, giúp đỡ chính họ.

Đừng bao giờ quên rằng chính qua hành động, lời nói và ý nghĩ, mà ta có quyền chọn lựa. Và nếu ta chọn lựa, ta có thể chấm dứt đau khổ và nguyên nhân đau khổ, và giúp cho tiềm năng chân thực của ta, Phật tính, thức dậy trong ta. Chừng nào Phật tính này hoàn toàn tỉnh thức, chừng nào chúng ta được giải thoát khỏi vô minh và hòa nhập với tâm giác ngộ bất tử, thì ta mới có thể chấm dứt vòng sống chết. Như vậy, giáo lý dạy ta, nếu ta không chịu đảm nhận toàn trách nhiệm cho chính mình trong đời hiện tại, thì sự đau khổ của chúng ta sẽ tiếp tục dài dài không những một vài đời mà hàng ngàn đời.

Chính nhận thức nghiêm trọng này đã làm cho những người theo Phật xem những đời sau còn quan trọng hơn cuộc đời này, vì còn có nhiều điều chờ đợi chúng ta trong tương lai. Cái thấy trường kỳ ấy chủ động lối sống của họ. Họ biết rằng nếu chúng ta vì một đời này mà không nghĩ gì đến tương lai vô tận thì cũng giống như điên rồ đem tất cả tiền dành dụm được cả đời vào một cuộc rượu duy nhất, không cần biết hậu quả. Nhưng nếu chúng ta tuân theo luật nhân quả và đánh thức thiện tâm, lòng từ bi trong ta, nếu chúng ta thanh lọc dòng tâm thức và dần dần khơi dậy trí tuệ của tự tính, thì chúng ta có thể thành một con người đúng nghĩa, và cuối cùng sẽ giác ngộ.

Albert Einstein nói:

– Một con người là một phần của toàn thể vũ trụ, một phần được giới hạn trong thời-không. Nó tự xem mình, những tư tưởng cảm giác của mình, như là cái gì tách biệt với toàn thể – đấy là một loại ảo tưởng của tâm thức. Ảo tưởng này là một nhà tù giam giữ chúng ta, giới hạn chúng ta vào những dục vọng riêng, và chỉ yêu mến vài người gần chúng ta nhất. Nhiệm vụ chúng ta là phải giái thoát mình khỏi ngục tù ấy bằng cách nới rộng vòng bi mẫn để bao gồm tất cả sinh loài và tất cả thiên nhiên trong vẻ đẹp của nó.