– Chinh phục thành công bằng tiến sĩ kinh tế, anh tiếp tục làm việc tại Silicon Valley. Điều gì khiến anh rẽ hướng khởi nghiệp ngành drone?
– Một lần xem TED Talk, tôi biết tới một tổ chức sử dụng drone quản lý khu bảo tồn. Khi đó, tôi nhận ra công nghệ này có thể ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực. Nếu Mỹ đã ứng dụng thành công, Việt Nam rồi cũng sẽ đi theo xu hướng đó. Tôi muốn trở thành người khai phá thị trường.
Đem ý tưởng đi chia sẻ với hai người bạn, họ cũng hào hứng. Ba chúng tôi quyết định khởi nghiệp, thành lập Realtime Robotics năm 2013.
Ban đầu, chúng tôi chỉ định làm dịch vụ bay: mua drone từ Mỹ về Việt Nam cho thuê. Ba người gom được khoảng 200.000 USD, đủ mua hơn chục chiếc. Nghĩ cơ hội thành công khoảng 60-70%, tôi nghỉ việc để startup.
– Dấn thân vào ngành mới, anh gặp khó khăn gì?
– Cuộc đời không như mơ. Khi mua các drone trên thị trường về thử nghiệm, tôi phát hiện nếu hãng quảng cáo 10, thực tế chỉ làm được 3, không đủ để mình làm dịch vụ. Tôi phải tự mày mò để nâng cấp. Pin gốc không đủ lâu, phải thay bằng pin hãng khác. Nhưng không phải cứ linh kiện tốt hơn lắp vào là dùng được, phải chỉnh sửa cho tương thích. Cứ như vậy, từ pin, camera, hệ thống điều khiển… chỉnh nhiều tới mức chiếc drone đó thành “của mình”. Đến khoảng năm thứ 3, mình tạo ra drone chất lượng tương đương với các hãng top đầu thế giới trong cùng phân khúc như Sony (Nhật), Freefly, Harris Aerial (Mỹ). Drone của họ bay được 50 phút thì mình cũng bay được 51 phút, họ mang được 1 camera thì mình cũng mang 1 camera…
Lúc đó, tôi lờ mờ nhận ra mình muốn vượt thế giới. Để tạo ra chiếc drone tốt hơn, mình buộc phải có phát minh riêng.
– Bước vào chặng tìm kiếm phát minh, khó khăn lớn nhất với anh là gì?
– Ngay khi xác định được mục tiêu mới là tìm ra phát minh, hai đồng sáng lập của tôi tuyên bố ngưng đồng hành. Một người cung cấp tài chính lớn cho công ty thông báo rút lui, người còn lại không rót thêm vốn.
Khi đó, công ty còn tiền để sống thêm 1-2 tháng. Tôi không có phương án tài chính nào dự trù, cả lộ trình giải ngân tính bằng năm bị ngắt ngang. 90% khả năng công ty phải đóng cửa.
– Anh đối diện với việc đó thế nào?
– Người đầu tiên chỉ gửi email thông báo, không có dấu hiệu gì trước. Đó là cú sốc lớn với tôi. Nhưng cảm giác đó cũng chỉ thoáng qua trong 1-2 ngày.
Triết lý tôi hay dùng để giúp mình bình tĩnh là nhìn vấn đề như hòn sỏi. Nếu để hòn sỏi sát mắt, nó sẽ che cả thế giới. Nếu cầm xa một chút, hòn sỏi sẽ nhỏ lại. Nếu ném xuống đất, sẽ như bao hòn sỏi khác. Năm 18 tuổi rớt đại học, mình sẽ thấy tương lai sụp đổ. Nhưng năm 28 tuổi nhìn lại, việc đó có thể chẳng còn ghê gớm lắm. Lúc đó, tôi hỏi mình: “5 năm sau, tôi sẽ nhìn việc này thế nào?”. Nhận ra, điều đó không huỷ hoại đời mình, trái đất không sụp đổ.
Sau đó, tôi tôn trọng quyết định của bạn. Tôi không gọi điện hay email trách móc khi cảm xúc chi phối. Thời gian sau, tôi mới biết bạn đã nghe thông tin tiêu cực từ bên thứ ba và quyết định như vậy.
Còn người thứ hai, do bạn cũng có xu hướng góp vốn giảm dần, tôi không quá bất ngờ. Nếu thuận lợi, mọi người cùng một niềm tin. Khi khó khăn, có người thấy mù mờ, họ sẽ rút lui. Với tôi, đó là chuyện bình thường khi khởi nghiệp.
Khoảng 1-2 tháng sau tôi bán một trong hai căn nhà của mình để duy trì công ty.
– Tất cả người đồng hành quay lưng cùng lúc. Khoảnh khắc đó anh có nghi ngờ về con đường mình đang đi?
– Ban đầu nghĩ mất 3 năm, tiêu khoảng 1 triệu USD mình sẽ thành công. Nhưng tới 2017, đã là 4 năm, số tiền cũng tiêu vượt nhiều lần dự kiến. Nhưng lúc đó, công ty đã có một số bước tiến về phát triển sản phẩm. Tôi có cảm giác, mình gần chạm tới đích. Số tiền bán nhà đủ để tôi hoàn thiện sản phẩm mẫu đầu tiên để bán 2 năm sau đó.
Thời điểm ấy, dự án của tôi cũng vừa được chấp thuận vào khu công nghệ cao TP HCM. Tôi được cho thuê một khu đất hơn 9.000 m2, đi kèm là một số ưu đãi về thuế. Tất cả yếu tố trên góp phần tăng khả năng thu hút cổ đông mới vào công ty.
Cũng xác định “5 ăn, 5 thua”, mất mình vẫn có thể quay về Mỹ làm lại. Do từng rất khổ nên tôi không sợ mất. Một khi đã làm sẽ đeo đuổi đến cùng. Tôi tin, khi muốn đạt được điều gì đó, mình sẽ phải hy sinh một vài thứ khác, không thể cùng lúc có tất cả. Nhìn lại, những lần tôi quyết tâm theo đuổi điều gì đó, tôi đều sẵn sàng đánh đổi, dồn toàn nguồn lực và đạt kết quả nhất định.
– Năm 2021, phát minh drone đầu tiên của anh ra đời, được hai bằng sáng chế của Mỹ và Australia. Anh đã tìm ra ý tưởng thế nào?
– Thời điểm nghĩ ra ý tưởng Hera, tôi đã xoay xở 7 năm trong ngành. Đã thử, sai rất nhiều hướng.
Tôi nhận thấy ngành drone có một nghịch lý – bài toán chung, là CSP: compact (nhỏ gọn), spacious (không gian rộng rãi), powerful (khoẻ). Ba yếu tố này tỷ lệ nghịch với nhau. Khoẻ thì phải to. Muốn rộng thì phải cồng kềnh. Drone nâng được 5 kg, có thể vừa balô. Nhưng drone nâng được 15 kg thì “cánh tay” dài cả mét. Quan sát các hãng trên thế giới, họ đã tìm cách gấp cánh tay drone để thu gọn khi không bay, giảm kích thước 3 lần. Tôi cũng thử. Họ gấp “cánh tay” một lần thì tôi gấp hai lần. Nhờ đó, tôi thiết kế ra drone sức nâng 15 kg, nhưng gấp lại thì kích thước tương đương drone sức nâng 5 kg, nhỏ đi 14 lần.
Ban đầu, chính các kỹ sư trong công ty cũng đặt câu hỏi vì sao tôi tin tính năng này người dùng cần, bán được ra thị trường. Chỉ tới khi mình mang sản phẩm đi trình diễn với quân đội Mỹ, thấy cách họ phản ứng, kỹ sư “trong nhà” mới hoàn toàn được thuyết phục. Lúc đó, có một bên phân phối của Mỹ đã tự tìm tới. Dù tôi chưa chế tạo ra sản phẩm, họ vẫn ứng tiền trước 400.000 USD để đặt hàng. Khi ấy, mình cảm nhận được “sức nặng” của phát minh. Thậm chí, khi phát minh đột phá, đáp ứng nhu cầu thị trường, kể cả không thể tự sản xuất, mình vẫn có thể cho công ty khác chế tạo và thu phí bản quyền. Tôi xác định con đường “sống còn” là có phát minh vượt thế giới.
Sáng chế đầu tiên tạo trớn, các phát minh sau mình làm nhanh hơn. Tới hôm nay tôi đã có 4 phát minh được cấp bằng sáng chế.
– Phát minh vượt thế giới đồng nghĩa phải nghĩ ra thiết kế, giải pháp công nghệ chưa ai nghĩ được. Điều gì khiến một tiến sĩ kinh tế Việt tin mình làm được?
– Khi làm UAV, tôi tự mày mò học tới mức giỏi hơn các kỹ sư được đào tạo ở Bách Khoa. Nhiều năm mổ xẻ hầu hết các loại drone trên thị trường cũng khiến tôi hiểu sâu sắc kiến thức công nghệ. Nền tảng kinh tế lại giúp mình nhìn vấn đề ở góc độ thị trường, người dùng – điều mà các kỹ sư thuần tuý thường bỏ quên.
Ngoài ra, tôi luôn có niềm tin người Việt không thua kém ai. Cách đây 15 năm, hàng điện tử do Nhật Bản thống trị. Nếu người Hàn Quốc e dè “ông kẹ” thì sẽ không thể vươn lên như hôm nay. Hay khoảng mười năm trước, nói đến Trung Quốc là nói đến hàng dỏm, hàng giả. Nhưng hiện họ có những phát minh tầm cỡ thế giới. Tôi không tin mình ngu hơn họ. Nếu đủ cam đảm, chịu tìm tòi và dám đầu tư quyết liệt, luôn có khe hở để vươn lên.