NHỮNG VẾT SẸO TỪ QUÁ KHỨ
Trích: HO’OPONOPONO Sống Như Người Hawaii: Chấp Nhận, Biết Ơn Và Tha Thứ; Carole Berger/ Hoàng Lan dịch; NXB Công Thương; 2020.
Những gì hình thành nên nhân dạng của chúng ta – mọi thứ mà ta xem như “bản thân mình”, “con người mình” – kỳ thực là tập hợp các niềm tin, thói quen và ý nghĩ mà chúng ta đã dựng nên trong suốt cuộc đời.
Những niềm tin này liên quan đến mọi khía cạnh đời sống của chúng ta: nói rằng cuộc sống thật khó khăn, ấy là một niềm tin; cho rằng phải sống ích kỉ mới mong đạt được thành công, đó là một niềm tin khác. Khi nói những câu như “đó mới là con người mình”, hoặc “phải, con người mình chính xác là như vậy”, tức bạn đang nhầm tưởng rằng bạn hiểu rõ bản thân, và rằng sẽ không có bất kỳ thay đổi nào. Nhưng bạn có thực sự chắc chắn điều đó là đúng không? Đó có thực sự là con người bạn không?
Bạn có thể phản bác: “Nhưng vấn đề ở đây là gì cơ chứ? Tất cả những điều đó đã hình thành nên nhân dạng của tôi, và việc tôi sống với những giá trị, niềm tin và quan điểm đó thì cũng là lẽ thường.” Tôi xin hỏi lại, bạn có thực sự tin chắc như vậy không?
Các bậc trưởng lão Hawaii dạy rằng phần lớn những niềm tin này sẽ khiến ta giảm sút năng lực và làm han chế bớt tính phong phú của những cơ hội mà cuộc sống mang đến. Khi quyết định rằng một điều là tốt hay xấu, rằng ta thích hoặc không thích thứ này hay thứ nọ, tức là ta đã gắn mác cho sự vật – và cho cả bản thân – điều này khiến tất cả các khả năng khác bị loại trừ. Chúng ta không cho phép các sự việc có bất kỳ cơ hội nào để diễn ra theo cách khác. Chúng ta không chịu nhìn nhận rằng mọi thứ đều thay đổi và tiến hóa, có những điều mới hôm qua còn tốt đẹp nhưng đến hôm nay chưa chắc đã tốt. Chúng ta không chịu thuận theo quy luật của sự biến đổi vĩnh hằng.
Những ký ức được tạo ra như thế nào?
Khi sinh ra, chúng ta mang trong mình vô vàn tiềm năng; mọi thứ còn để ngỏ, cuộc sống của chúng ta là một mảnh đất xanh tốt, chưa có thứ gì được xây dựng trên đó. Kế đến, thường là không chủ tâm, cha mẹ chúng ta, gia đình chúng ta, và xã hội mà trong đó chúng ta trưởng thành, xây cất lên mảnh đất ấy những ngôi nhà, điều này rốt cuộc lại làm chắn mất quang cảnh rộng mở của cả vùng trời trước mắt.
Cứ như vậy, họ xây hết tòa nhà này đến tòa nhà khác tới khi mảnh đất hầu như không còn chỗ trống. Và tất nhiên, là những đứa trẻ, chúng ta đồng hóa bản thân với những tòa nhà đó, điều này làm chúng ta an tâm; chúng ta không còn nhìn thấy mảnh đất xanh tốt, rộng bát ngát mà chỉ nhìn thấy những tòa nhà. Chúng ta quên mất một điều là những tòa nhà này có thể được dỡ bỏ, và chúng ta có thể xây thế vào đó những tòa nhà khác hữu ích hơn cho bản thân.
Bên cạnh những “bất động sản” này, chúng ta còn tích lũy những công trình của riêng mình. Mỗi một sự kiện trong quá khứ sẽ tạo ra những lối mòn trong tâm trí dựa theo tiếng vọng tích cực hoặc tiêu cực của nó trong tiềm thức.

Quá trình hình thành những giới hạn
Một cô bé đang gặp khó khăn trong học tập; tuy rất nỗ lực song em vẫn không thể gặt hái được những kết quả làm cha mẹ hài lòng. Mặt khác, em rất có khiếu hội họa – và cũng thực sự yêu thích bộ môn này: em có thể ngồi vẽ hàng tiếng đồng hồ. Nhưng mẹ cô bé không cho phép em vẽ. Bà bắt em phải học cật lực hơn để cải thiện điểm số ở trường. Bà cho rằng mình đang hành động đúng; cũng chỉ vì lợi ích của con mà bà mới phải liên tục nhắc nhở: “Con chẳng tập trung học hành chút nào, nếu không thôi ba cái trò vẽ vời kia để lo mà học toán thì sau này con sẽ chẳng làm nên trò trống gì đâu”.
Liên tục suốt nhiều năm trời, ngày nào cô bé cũng phải nhận những thông điệp chẳng mấy vui vẻ: Mình không được phép làm những gì đem đến cho mình niềm vui; tận hưởng như vậy là không tốt; sống là phải nỗ lực và hoàn thành nhiệm vụ.
Cô bé sẽ biến ý nghĩ này thành niềm tin và một khuôn mẫu hành vi, và do đó tạo nên một ký ức. Thông tin này sẽ được tích hợp vào cơ thể và tâm trí cô bé, và rốt cục nó sẽ định rõ một khía cạnh trong nhân dạng của em: “Nuông chiều bản thân là không tốt; phải liên tục cố gắng phấn đấu.” Em sẽ làm bất cứ điều gì để không phải nghe mẹ nhiếc móc, và trốn tránh niềm vui dưới mọi hình thức. Nếu ai đó mời em đi dã ngoại, mặc dù em rất thích tản bộ trong rừng, em vẫn sẽ từ chối với lý do “thích” dành thời gian cho những việc “có ích”.
Khi cô bé trưởng thành, tuy cách nghĩ này không còn hữu ích nữa – cô hoàn thành tốt công việc chuyên môn và chứng minh được với bản thân rằng cô có thể thành công – cô vẫn tiếp tục trốn tránh những thú vui nho nhỏ của cuộc sống và quên đi bản thân để không ngừng phấn đấu. Cô sẽ nói với mọi người thế này: “Tìm niềm vui cho bản thân là một việc lãng phí thời gian; bạn phải làm việc cật lực mới mong có được thứ gì đó. Tôi không có thời gian cho những mưu cầu tầm thường.” Cô sẽ tự định nghĩa mình theo cách này và không nhận thấy niềm tin ấy đang ngăn không cho cô tận hưởng trọn vẹn cuộc sống.
Vốn là nguồn gốc sinh ra các cơ chế của chúng ta, những ký ức này có sức mạnh to lớn đến nỗi chúng trở thành những đặc tính được biểu hiện liên tục ra bên ngoài và chi phối cuộc sống của chúng ta. Giới hạn được thiết lập, ký ức được củng cố. Và bản ngã tin rằng nó đang hành động vì những điều tốt đẹp nhất: để những đau khổ trong quá khứ (“Mình không được phép nuông chiều bản thân”) không tái diễn, nó bảo vệ ta bằng cách né tránh những trải nghiệm tương tự, và sau đó làm mọi thứ có thể để né tránh những trải nghiệm vui vẻ có nguy cơ khiến người khác nổi giận. Thế nhưng, nó không hề bảo vệ ta như ta tưởng, mà kỳ thực nó đang cầm tù ta. Nó cũng làm hạn chế tiềm năng của ta cũng như cơ hội được trải nghiệm một thực tại khác.
Cô bé ấy là tất cả chúng ta. Đa số chúng ta đều đã lựa chọn tin vào những giới hạn của mình: “Tôi không thể”, “Tôi sẽ không thành công”, “Tôi không biết”… Người khác thuyết phục ta, rồi sau đó ta tự thuyết phục bản thân, rằng ta có giới hạn. Đó là một niềm tin!
Cơ chế của ký ức
Kỳ thực, đại đa số các hành vi mang tính cảm xúc và xã hội của chúng ta là thành phần của một cơ chế mạnh mẽ. Chúng ta vận hành bằng những hồi đáp mang tính phản xạ mà không hề thắc mắc về chúng – những “chương trình” mà dù biết rõ là tệ hại song ta cứ mãi tái diễn. Điều đó cũng giống như chơi một trò điện tử hàng năm trời mà chẳng bao giờ có ý định thử trò mới.
Khi một sự kiện, dù vụn vặt tới đâu, “ghi khắc” vào tâm trí, nó sẽ để lại dấu vết không chỉ trong tiềm thức mà còn trong cơ thể. Từ đó về sau, hễ có một sự kiện tương tự xảy ra, bản ngã sẽ rà soát toàn bộ ký ức để tìm kiếm những cảm xúc liên quan đến sự kiện quá khứ nọ và tái hiện lại hoạt cảnh này theo cách thức tương tự. Dù sự kiện mới này có xảy ra sau sự kiện cũ 20 năm chăng nữa thì nó cũng chẳng quan tâm: đối với bản ngã, chỉ có một lối mòn duy nhất – lối mòn mà nó biết – và nó sẽ đi theo lối đó. Nó không quan tâm đến thực tế là tình huống hiện tại không phải là tình huống trong quá khứ. Vì thế, các ký ức cứ tự tái hiện lại hết lần này đến lần khác và khiến ta bỏ lỡ mất hiện tại.
Tâm trí vốn lười biếng, nó không thích sự thay đổi; nó ưa đi theo lối mòn vì như vậy thì tiện hơn rất nhiều! Càng ít phải nhọc công bao nhiêu, nó càng sung sướng bấy nhiêu. Tại sao phải nghi ngờ một lối mòn sẵn có mà nó đã quen đi trên đó hằng ngày?
Tại nhiều thời điểm khác nhau trong ngày, điều quan trọng là “nắm bắt” ý nghĩ của bản thân, quan sát một phản ứng mà ta có thể có, tạm dừng lại và xem thử nó có phải là một “thói quen” hay không. Hãy học “đóng băng khung hình” theo cách này để có thể áp đặt cho tâm trí và cảm xúc một cách hồi đáp khác và cung cấp thêm cho chúng những công cụ đắc lực.
Nếu thay vì phản ứng “tại đúng khoảnh khắc xảy ra sự việc”, tôi yêu cầu tâm trí “án binh bất động” rồi tự cho bản thân chút thời gian để hít thở sâu, tôi sẽ nhận ra rằng tôi có nguồn lực để phản ứng lại sự việc ấy theo cách khác. Xung quanh tôi mọi thứ vẫn không hề thay đổi; thay vào đó, chính tôi mới là người đã thay đổi.
Từ hỗn loạn đến thông suốt
Hãy tưởng tượng một người phụ nữ luôn thích nắm phần đúng và không thể chịu nổi dù chỉ một ý kiến phản bác nhẹ nhàng nhất. Mỗi khi bảo vệ một quan điểm, một “‘sự thật” nào đó, cô luôn tỏ ra hết sức kích động. Rồi một ngày kia, cô nhận ra rằng những sự “kích động” này đang khiến cô kiệt sức và cô không muốn tiếp tục sống như vậy. Cách phản ứng của cô châm ngòi cho những cảm xúc khó chịu và chỉ khiến mọi cuộc thảo luận đi vào bế tắc. Những lúc như vậy, cô trở nên lấn lướt tới mức đối phương không còn không gian để tiếp tục trao đổi với cô.
Vì vậy, cô bắt đầu quan sát cơ chế của mình. Cô nhận thấy mỗi khi bắt đầu thảo luận, cô giữ bình tĩnh được vài phút, rồi sau đó trở nên bực bội mà không thực sự hiểu tại sao lại thành ra như vậy. Cô nhớ cơ thể mình căng cứng lại, giọng nói to dần, và cơn kích động của cô mỗi chốc một gia tăng. Khi cô bắt tâm trí yên lặng để có chút thời gian hít thở sâu thay vì phản ứng tại đúng khoảnh khắc xảy ra sự việc, cô dần hiểu ra rằng mình có đủ mọi nguồn lực cần thiết để hành xử theo một cách khác. Xung quanh cô mọi thứ vẫn không hề thay đổi; thay vào đó, chính cô mới là người đã thay đổi. Cơn xáo trộn nội tâm trước kia giờ đây đã nhường chỗ cho sự bình an. Thật nhẹ nhõm làm sao! Cuối cùng, cô không còn phản ứng nữa mà cô hành động có ý thức ngày một thường xuyên hơn.
Bạn hoàn toàn có thể kiểm soát các phản ứng của bản thân. Bằng sự chú tâm và bằng cách từ từ kiểm soát chúng, bạn có thể thay đổi các thói quen, nhờ đó mà thay đổi cuộc đời bạn. Khi từ bỏ những cơ chế này và kiên quyết chọn một tiến trình hành động khác, chúng ta sẽ buộc tâm trí phải đi theo con đường mới. Điều này tất nhiên sẽ làm nó khó chịu nhưng đồng thời cũng cho phép nó cân nhắc tới những khả năng khác. Chỉ một thay đổi đơn giản trong thói quen – dù nhỏ thế nào – cũng sẽ mở ra cánh cửa dẫn tới vô vàn lựa chọn khác. Năng lượng đang biến chuyển và thu hút những thực tại mới. Cuộc sống sẽ khoác lên mình muôn màu sắc của năng lượng mới này.
