NIÊN THIẾU CHƯA TỪNG RÕ SẮC KHÔNG
Trần Nhân Tông: Đời – Đạo không hai; Nguyễn Thế Đăng; NXB Tôn giáo, 2024
Đây là câu đầu tiên trong bài Xuân Vãn của ngài. Bài này nói sơ qua về con đường tâm linh cá nhân:
Niên thiếu chưa từng rõ sắc – Không,
Một xuân tâm ở tại trăm hoa
Khuôn mặt chúa Xuân nay khám phá
Giường gỗ, đệm thiền ngắm rụng hồng.
Niên thiếu chưa từng rõ sắc – Không. Vào thời niên thiếu, chưa từng rõ (liễu), chưa từng ngộ (liễu ngộ), chưa từng biết trực tiếp tánh Không là gì.
Chưa có kinh nghiệm tâm linh trực tiếp về tánh Không, nhưng không phải ngài không có kiến thức và không học hỏi về tánh Không, bởi vì ông nội ngài là vua Trần Thái Tông (1218 – 1277) và cha ngài là vua Trần Thánh Tông (1240 – 1292) đều là những người ngộ đạo, và ngộ đạo khi đang làm vua.
Vua Trần Thái Tông, ông nội của ngài, trực ngộ tánh Không như thế này:
“Vì thế trẫm cùng mọi người trở về kinh, miễn cưỡng lên ngôi. Trong khoảng hơn mười năm, mỗi khi rảnh việc trẫm lại hội họp các tôn đức để tham thiền hỏi đạo, và các kinh điển đại giáo thì đều tham cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim Cương, một hôm đến chỗ ‘ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’ (hãy nên sanh tâm vào chỗ không trụ), vừa gấp sách lại ngâm nga, bỗng nhiên tự ngộ. Lấy chỗ ngộ ấy làm bài ca này, đặt tên là Thiền tông chỉ nam.
Năm ấy, quốc sư từ núi Yên Tử về kinh, trẫm mời ở chùa Thắng Nghiêm để in kinh sách. Trẫm đưa sách này cho quốc sư xem. Sư mới xem qua một lần, đã tán thưởng:
– Tâm của chư Phật ở hết cả trong này, sao không in thành kinh để chỉ dạy cho hàng hậu học?”
Cha ngài, vua Trần Thánh Tông, trong bài Độc Đại Tuệ ngữ lục hữu cảm, viết:
Đập ngói dùi rùa ba chục niên
Bao lần xuất hạn bởi tham thiền
Một mai biết suốt khuôn mặt mẹ
Mặt mũi nguyên lai thiếu một bên.
Trước mắt không sắc, tai không thanh
Một phiến tâm đầu tự đúc thành
Thanh sắc chẳng can, ngoài môi lưỡi
Mặc người lí nhí với lao xao.
Sống trong một nền văn hóa của gia đình và dòng họ như vậy thì câu nói “niên thiếu chưa từng rõ sắc – Không” chỉ có nghĩa là ngài chưa ngộ tánh Không, chứ ngài vẫn nghe, học, đọc, nghiên cứu (Văn), và có lẽ thêm cả tư duy (Tư), rồi thiền định thiền quán về tánh Không (Tu).
Đây là một khác biệt rất lớn giữa cái học ngày nay với thời xưa. Ở Ấn Độ và Trung Hoa, từ khi đi học cho có được một nghề nghiệp để sống ở đời, người ta đồng thời phải học để biết con người còn có một đời sống tâm linh.
Chẳng hạn, câu đầu tiên của sách Đại Học thuộc Khổng giáo là: “Cái đạo của đại học, cốt ở làm sáng cái đức sáng, cốt ở đổi mới cho dân, cốt ở dừng nơi chỗ chí thiện”. (Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện).
Với đạo Phật, trên mười tuổi là người thiếu niên đã bắt đầu được học về nhân quả, định luật quản lý đời sống cá nhân và xã hội. Được học rằng có một đời sống tâm linh, có một trạng thái “tâm” siêu vượt gọi là Niết bàn, biết ngay trong thân thể sẽ già, chết này vẫn luôn luôn có một cái thân siêu vượt, bất biến gọi là pháp thân… Mặc dầu để kinh nghiệm trực tiếp cái này là một công việc suốt đời và với người bình thường người ta chỉ kinh nghiệm được phần nào, nhưng chỉ niềm tin và kinh nghiệm phần nào ấy cũng cho người ta sống hạnh phúc, không lo âu và vượt qua được cái chết.
Từ thời niên thiếu ngài đã học để lên làm vua, đồng thời vẫn tu tập, như cha mình, “đập ngói dùi rùa ba chục niên, bao lần xuất hạn bởi tham thiền”. Cho đến tuổi trưởng thành, khi đang làm vua và chuẩn bị cho lần thứ ba quân Nguyên Mông tiến đánh, ngài đã thấy ra “khuôn mặt chúa Xuân” và cũng là “khuôn mặt xưa nay của chính mình”:
Khuôn mặt chúa Xuân nay khám phá
Giường gỗ, đệm thiền ngắm rụng hồng.
Giai đoạn quyết định này sẽ được nói ở sau, ở đây chỉ nói sự khám phá được khuôn mặt xưa nay của mình, bản tánh của mình, tự tâm của mình, pháp thân của mình, Phật tánh của mình, tánh giác của mình… đã biến đổi cuộc đời ngài như thế nào.
Một điều dễ thấy là từ khi “khuôn mặt chúa Xuân nay khám phá” thì những bài thơ của ngài thường có chữ “xuân”. Trong khoảng gần ba mươi bài thơ, thì có đến mười bốn bài có chữ “xuân”. Đời sống tâm linh, sống Đạo không chỉ đem lại sự hoan hỷ, vui tươi, mới mẻ… mà những phẩm tính này là sự biểu lộ của cội nguồn tâm linh. Đời sống bình thường trở thành sự biểu lộ của năng lượng nguyên thủy của đời sống tâm linh. Năng lượng của đời sống tâm linh biến cuộc đời đầy đủ vật chất của một vị vua thành một môi trường, đạo tràng của tự do, giải thoát, hoan hỷ tràn bờ, trước kia chưa từng có:
Ai buộc mà đi cầu giải thoát
Chẳng phàm, nào phải kiếm thần tiên…
(Sơn phòng mạn hứng)
Khi thấy biết khuôn mặt xưa nay của chính mình thì ý thức bị trói buộc trong bốn câu, “có, không, vừa có vừa không, không vừa có vừa không” được vượt qua, những mâu thuẫn lòng thòng (sắn bìm) bị bỏ lại. Phiền não, trói buộc vì chỉ sống trong vòng vây hạn hẹp của ý thức, khi cắt đứt được sắn bìm lòng thòng mâu thuẫn của ý thức thì cái vô hạn mở ra, tự do ngay trước mặt:
…..
Câu có câu không
Từ xưa từ nay
Chấp ngón mất trăng
Chết đuối đất bằng.
Câu có câu không
Như vậy như vậy
Tám chữ mở toang
Toàn không vấn đề.
Câu có câu không
Quay phải quay trái
Thuyết lý om sòm
Ồn ào tranh cãi.
Câu có câu không
Rầu rầu rĩ rĩ
Cắt đứt sắn bìm
Đây kia vui vẻ.
♥♥♥
Chứng ngộ khuôn mặt chúa Xuân là chứng ngộ được Không, tánh Không.
“Niên thiếu chưa từng rõ sắc – Không”: thời niên thiếu có học về sắc – Không, nhưng đó chỉ là hai khái niệm của ý thức. Sắc là tất cả những hình tướng do mắt thấy, đây là thế giới hiện tượng. Và Không, tánh Không là “thế giới” bản thể. Thế giới hiện tượng của sắc thì khác biệt nhau muôn ngàn hình tướng, chẳng nối kết gì với nhau. Sự khác biệt, thậm chí trái ngược, chống đối lẫn nhau tạo thành thế giới sanh tử, phân mảnh, từ đó có phiền não, khổ đau.
Ý nghĩa đời người là phải tìm ra nền tảng, môi trường nguyên thủy nối kết tất cả các khác biệt phân mảnh ấy lại. Nền tảng, môi trường nguyên thủy này là tánh Không và tánh Không này phải không còn là một khái niệm, mà là được thấy và biết để trở thành nền tảng đầu tiên và cuối cùng cho tất cả mọi biểu hiện của trời đất người.
“Khuôn mặt chúa Xuân nay khám phá”: khám phá được tánh Không thì “sắc tức là Không, Không tức là sắc”. Cả hai không còn khác biệt mà hòa hợp với nhau để trở thành Một. Đây là đời sống chân thực không bị phân hai. Khi ấy thế giới hình tướng (đời) không khác với thế giới bản thể (đạo). Thế giới vật lý không khác với thế giới tâm linh. Đây là con đường mà suốt đời ngài Trần Nhân Tông theo đuổi.
Khi sắc và Không không khác, hòa nhập làm một, thì đây là tự do, vô sự, an lạc:
Giường gỗ, đệm thiền ngắm rụng hồng.
♥♥♥
Khuôn mặt chúa Xuân, nói theo chữ dùng trong các kinh, như kinh Pháp Hoa, là “thật tướng của tất cả các pháp”, thật tướng của tất cả mọi sự.
Thật tướng ấy là nền tảng cho cuộc đời chúng ta, từ xưa cho đến nay và mãi mãi về sau.
Thấy được khuôn mặt ấy, thật tướng ấy thì tất cả mọi sự biến thành thật tướng. Như một tấm gương biến tất cả hình bóng phản chiếu trong nó thành chính tấm gương.
Thấy và sống được trong thật tướng ấy thì mọi sự luôn luôn mới, vì như tấm gương, các hình bóng chưa bao giờ “in chết cứng” vào tấm gương, nên các hình bóng luôn luôn mới.
Luôn luôn mới vì trong tấm gương, không có thời gian và không gian làm giới hạn.
Thật tướng của tất cả mọi sự là Vô Tận Tạng, danh hiệu của một Bồ tát trong các kinh Đại thừa. Sống trong thật tướng của tất cả mọi sự, trong Vô Tận Tạng không có thời gian và không gian cho nên đời sống luôn luôn mới.
Chính vì không có cái gì là cũ, nên trong bài giảng tại chùa Sùng Nghiêm, năm 1306, khi có vị tăng hỏi: Dùng công án xưa để làm gì? Nhà vua, lúc đó đã xuất gia, trả lời rằng:
Mỗi lần đưa ra là một lần mới
(Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân).
Thấy cuộc đời luôn luôn mới, sự vật, thời gian không gian, luôn luôn mới; mọi sự đều được đổi mới tái sanh mỗi ngày, đây là đời sống đích thực để có thể gọi là đời sống vĩnh cửu.

