SỰ TỰ CHỮA LÀNH CỦA THIÊN NHIÊN

Trích: Trí Tuệ Của Rừng; Người dịch: Cơ Lương; NXB Dân Trí; Công ty XB Thiện Tri Thức, 2024

02/05/2026
13 lượt xem

Hannah theo tôi tiến vào lùm cây hemlock giữa những tảng đá bên dưới hố đen trong vách đá – một cánh cổng dẫn đến hàng kilomet đường hầm mà những người thợ mỏ cho nổ mìn sâu vào núi cách đây một thế kỷ để tìm đồng và kẽm. Chúng tôi đào một cái hố đất giữa đám cây, một vài hạt khoáng có màu xanh lá, những hạt khoáng khác bị gỉ sét, chúng tôi bảo vệ hai tay bằng găng tay phẫu thuật, cánh tay được che chở bởi áo dài tay. Nước rỉ ra từ các cánh cổng chứa đầy đồng, chì và các kim loại khác và chính những thứ này đã làm ô uế nền rừng. Các kim loại kết hợp với sunfua trong quặng với sự trợ giúp của vi khuẩn để hình thành dòng thải axit đá, dòng chảy này ngấm từ những đống đá thải loại đi sâu vào trong đất. Ấy vậy mà cây cối vẫn đang phát triển nơi đây, ngay cả khi sinh trưởng chậm, chúng vẫn cố gắng hết mình để tiếp nguồn nhiên liệu cho quá trình hồi phục khu rừng.

Đó là mùa hè năm 2017. Chúng tôi có mặt tại mỏ Britannia – cách Vancouver 45 kilomet về phía bắc trên bờ biển Howe Sound thuộc lãnh thổ chưa từng được chuyển giao của người Squamish – mỏ lớn nhất ở Đế quốc Anh, được mở vào năm 1904 để khai thác các thân quặng hình thành khi dung nham núi lửa chảy tràn qua mặt đá trầm tích, và hỗn hợp của sự biến đổi này tiếp xúc với sự xâm nhập của magma. Những người thợ mỏ đã khai thác đá ở những chỗ đứt đoạn và đứt gãy giàu quặng, đào xuyên qua núi Britannia, từ mạn Britannia Creek ở sườn bắc đến mạn Furry Creek ở sườn nam, có diện tích khoảng 40 kilomet vuông. Họ để lại 24 chiếc cổng cho 210 kilomet đường hầm và hầm lò kéo dài từ mức 650 mét dưới mực nước biển lên đến độ cao 1.100 mét trên mực nước biển.

Những người đàn ông đã vận chuyển quặng từ bên trong núi theo đường ray xuất hiện vào ban ngày ở cổng, nơi họ chất quặng lên xe ray và đường xe điện, để lại đá thải loại chất thành đống. Ngay cả sau khi mỏ đóng cửa vào năm 1974, nơi đây vẫn là một trong những nguồn ô nhiễm kim loại lớn nhất đối với môi trường biển ở Bắc Mỹ. Phế phẩm và đá thải loại được người ta dùng để lấp vào bờ biển và vùng Britannia Creek có chứa hàng cân đồng, dòng nước trông trong veo nhưng không tồn tại sự sống chảy vào Howe Sound, tiêu diệt sự sống đại dương trong ít nhất 2 kilomet dọc bờ biển. Nước ở vùng Britannia Creek độc hại đến mức khi mỏ đóng cửa, cá hồi Chinook khi được đưa vào đã chết trong vòng 48 giờ. Sau nhiều năm khắc phục, cá hồi đã trở lại đẻ trứng thành công ở khu vực Britannia Creek, và bờ biển tại Britannia Beach đã có lại sức sống với sự hiện diện của thực vật và động vật không xương sống trên những tảng đá, cá heo và cá voi sát thủ ở Howe Sound.

Đây là những dấu hiệu cho thấy Trái Đất có thể tha thứ cho con người.

Tôi đến đây cùng Hannah theo yêu cầu của nhà độc chất học môi trường Trish Miller để đánh giá tác động từ những đống đá thải loại đối với khu rừng xung quanh. Các tác động không chỉ riêng rẽ với các con lạch mà đã tiến xa hơn vào khu rừng, và cô ấy muốn có một đánh giá sâu rộng hơn so với mức bình thường. Tôi đã chớp lấy cơ hội được làm việc cùng Trish vì đã nghe cô ấy nói về chuyện khắc phục môi trường trong nhiều năm với tư cách là bạn bè từ thuở lũ trẻ nhà chúng tôi còn bé. Tôi cảm thấy hiếu kỳ, muốn khám phá khả năng của rừng cây trong việc chữa lành một hệ sinh thái bị tàn phá, của những cây cổ thụ gieo mầm vào Trái Đất thô sơ, của mạng lưới nấm và vi sinh vật để hàn gắn những tổn hại. Cây cối sinh trưởng tốt như thế nào trong quầng sáng của những khu rừng ô nhiễm kim loại quanh những đống đá thải loại? Có phải rừng đang hồi phục hay không? Chúng ta có nên hỗ trợ thêm điều gì không, hay khu rừng có thể chậm rãi tự chữa lành?

Rừng có thể chịu đựng một vết thương sâu sắc đến đâu trước khi việc chữa lành không còn khả thi nữa?

Hannah và tôi đã tìm thấy những cánh cổng ẩn giữa những đám cây hemlock, những lớp khăn choàng của đám cây bao bọc những cánh cổng đang há miệng dẫn đến các hang động. Các cây trăn và bạch dương lót đệm các con đường hầm mỏ đào tay và đường ray dẫn từ các đường hầm nằm cao trong các khe núi đến nhà máy phân tách ở bờ biển bên dưới. Rêu và địa y bao phủ các trại ngủ nghỉ của những người thợ mỏ, còn các địa điểm trong thị trấn nơi gia đình họ sinh sống đều tĩnh lặng. Chất mùn trong khu rừng bao xung quanh các đống đá thải cằn cỗi hơn những khu rừng không bị ô nhiễm quanh đó, nhưng đám rễ cây đã quấn lấy những tảng đá lộ ra, và một đám đỗ quyên cùng cây kim ngân đen và dương xỉ diều hâu chuộng axit đã tìm được chỗ đặt chân vững chắc. Khi chúng tôi đứng dưới những cành cây hemlock đang nhỏ nước mưa tong tỏng, tôi cảm thấy rằng nếu có bất kỳ nơi nào Trái Đất sở hữu sức mạnh chữa lành thì nơi đó sẽ là ở đây, trên bờ biển Thái Bình Dương, một trong những khu rừng mưa năng suất nhất trên thế giới.

Đây cũng là cơ hội để Hannah thấy cách đánh giá sự tàn phá – đối với cây cối, đất và rêu – và khả năng phục hồi của mẹ thiên nhiên, ngay cả khi huyết mạch của nó trên bề mặt đã chảy máu. Quy mô của những đống đá thải loại này chưa là gì so với một khu rừng bị triệt hạ rộng hàng trăm mét, hàng ngàn khu rừng bị đốn hạ quần tụ trên các thung lũng và hàng ngàn mỏ đồng lộ thiên trên khắp thế giới. Sự xáo trộn do nạn triệt phá rừng thật thảm khốc, nhưng rừng có thể dễ dàng phục hồi khi nền rừng còn nguyên vẹn, trong khi việc loại bỏ đất và kim loại khai thác từ sâu bên trong lòng đất lại có tác động lâu năm đến rừng và sông suối.

“Thật tốt khi cây cối đang quay trở lại.” Hannah nói trong khi đang đếm số vòng năm tuổi của một cây hemlock tây cỡ nhỏ. Đó là một trong số hàng chục cây – xếp hàng như những người lính bộ binh đã tìm thấy một khoảng đặt chân nho nhỏ trong khúc gỗ mục nát. Hạt giống của chúng đã phân tán từ những khu rừng khỏe mạnh liền kề, rễ của chúng tìm thấy chỗ dựa trong những thân gỗ mục nơi những sinh vật cộng sinh dạng nấm hấp thụ lượng dinh dưỡng khan hiếm, sợi xenlulo xốp thấm hút nước và ánh sáng xuyên xuống thành tia mỏng từ tầng cây trên cùng. Cây của Hannah đang sinh trưởng với tốc độ chỉ bằng nửa những cây già gần đó – rễ cây cắm nông hơn, tán thưa hơn – nhưng tôi biết nó sẽ sống sót. Gabriel, sinh viên khóa thạc sĩ của tôi, đã phát hiện ra ngay cả những cây hemlock non có rễ bám chặt vào các thân gỗ già cũng có thể kết nối với các Cây Mẹ gần đó và nhận được carbon từ những tán lá mạnh mẽ cho đến khi bản thân có thể tự cung tự cấp. Cộng đồng thực vật ở tầng dưới tán này cũng đang phục hồi, với một nửa số cây bụi và thảo mộc già cỗi giờ đây xuất hiện thành từng mảng nhỏ, hầu hết chúng đều là loài ưa axit, như cây hemlock đang từ từ biến đổi đất và thúc đẩy nhanh chu kỳ dinh dưỡng. Những thông tin phản hồi này vô cùng quan trọng trong việc giúp cho cây cối lấy lại động lực sinh trưởng của chúng. Trong hố đất, tôi đo chiều sâu của nền rừng – những lớp cành lá vụn, chất lên men và mùn – và chúng đã dày bằng khoảng một nửa chiều sâu nền của những khu rừng khỏe mạnh liền kề.

Khi tôi bóc lại nền rừng để xem xét lớp đất khoáng bên dưới, một con rết màu đồng, to như con kỳ giông, oằn mình trên tay tôi. “A!” Tôi hét lên, ném con vật chân đốt vào một thân gỗ, nó rơi nhào xuống chỗ có ít đất mùn. Con rết tỏ ra cực kỳ giận dữ, luồn lách nhanh đến nỗi khiến cho đất bị xào xáo lên. Một dấu hiệu – một dấu hiệu đáng kinh ngạc – cho thấy nền rừng đang hồi phục. Con rết đào bới khuất tầm nhìn để tiếp tục công việc trong ngày, ăn những con bọ nhỏ hơn, những con bọ nhỏ đó lại ăn những con thậm chí còn nhỏ hơn nữa, và cứ thế ăn rồi bài tiết, chuyển hóa chất dinh dưỡng, tạo thành một chuỗi hành động giúp cây cối phát triển. Hannah và tôi đã ăn bánh quy nhân hạt socola trước khi đo và ghi chép lại độ sâu và kết cấu của đất, chiều cao và tuổi của cây cối, các loài và lớp phủ của thực vật, những dấu hiệu của các loài chim và động vật.

Chúng tôi lái xe lên núi xa hơn 5 kilomet nữa, khảo sát thực vật và đất trên một sườn núi dốc toàn đá thải loại, góc nghiêng 70 độ dốc đến mức người ta phải treo dây thừng để giúp công nhân trượt xuống. Phần mái taluy gần như trơ trụi ở giữa, chỉ lưa thưa vài gốc cây địa y chen qua những mảnh đá vỡ cùng những ngọn cỏ lẻ loi cắm rễ. Những mầm cây hemlock đã tìm ra một hạt mùn để cắm rễ có dáng vẻ nhợt nhạt ốm yếu – úa vàng – do không có đủ nitơ, tình cảnh này khiến tôi nhớ đến những cây con nhỏ úa vàng trên dãy núi Lillooet cách đây rất lâu. Hannah bắt kịp theo tôi khi chúng tôi lò dò đi qua mái taluy dốc. Những cây hemlock được gieo hạt từ vùng lân cận các Cây Mẹ trông càng lúc càng tràn trề sức sống khi chúng tôi tiếp cận đường giới hạn bìa rừng. Tại bìa rừng, trong màn sương mù bao phủ, những cây non lớn hơn, tán lá rực rỡ hơn, những nấm quả thể rễ cộng sinh quấn lấy khoáng chất, tự tạo dựng đất. Từng chút một, với sự giúp đỡ của những Cây Mẹ, những sinh vật nấm và vi khuẩn, thực vật và rết – cùng nhau làm việc để chữa lành những vết thương của nơi chốn hùng vĩ đã bị khai thác này.

“Việc mang đất từ rừng già vào cũng sẽ có ích”. Tôi nói, nhớ lại cách bà Winnie xây dựng khu vườn của mình bằng phân ủ, chôn lòng của những con cá ông Bert bắt được dưới gốc cây mâm xôi, rất giống với người Heiltsuk cùng những con gấu và chó sói nuôi dưỡng những cây tuyết tùng Tổ bằng xương của cá hồi, trả lại và hoàn thành chu kỳ. Tôi xin thề rằng những quả mọng nơi bà đã chăm bón là ngọt nhất. Tôi thích việc Hannah theo chân tôi cũng giống như tôi đã theo chân bà qua những mảnh ruộng ngô và khoai của bà.

“Mẹ cũng có thể trồng cây bạch dương và gỗ trăn ở đây Hannah nói, cô bé gợi ý chúng tôi thu thập hạt giống từ những cây gỗ trăn dọc theo dòng chảy và những cây bạch dương dọc theo con đường khai thác mỏ cũ.

“Ý hay đấy.” Tôi nói. “Và trồng theo cụm, không phải theo hàng. Cây cối cần ở gần bên nhau để tạo ra loại đất dễ hấp thụ, để cùng nhau xây dựng nên hệ sinh thái, hòa mình cũng những loài khác, liên kết theo những mô thức tạo ra một mạng lưới bao trọn cả khu rừng, bởi lẽ khu rừng sẽ dễ hồi phục hơn từ mô thức phức tạp này. Các nhà khoa học hiện nay ngày càng sẵn lòng nói rằng rừng là hệ thống thích nghi phức tạp, bao gồm nhiều giống loài có thể điều chỉnh và học hỏi, hệ thống đó bao gồm các di sản như những cây cổ thụ ngân hàng hạt giống và thân cây gỗ đã đổ. Những bộ phận này tương tác trong các mạng lưới năng động đầy phức tạp với các phản hồi thông tin và sự tự tổ chức. Các đặc tính cấp hệ thống xuất hiện từ đây chồng chất với nhau tạo thành kết quả lớn hơn tổng đặc tính của các phần. Các thuộc tính của một hệ sinh thái hòa nhịp thở cùng với sức khỏe, hiệu suất, vẻ đẹp và tinh thần. Không khí sạch, nước tinh khiết, đất đai màu mỡ. Rừng cây liên hệ mật thiết với công năng chữa lành theo cách này và chúng ta có thể ra tay giúp đỡ nếu tuân theo sự dẫn dắt của Mẹ Rừng.

Chúng tôi đi đến gò đất đá thải loại ở cổng trên cùng, những vụ nổ tạo ra một lằn sẹo to như cái hang, cao rộng vài trăm mét, đá thải loại chất thành từng đống ở chân núi. Không khí loãng hơn, những đám mây cuồn cuộn trên những ụ đá granite, những cơn mưa lạnh buốt trút xuống chúng tôi. Những cây hemlock núi xung quanh cánh cổng vẫn tràn trề sức sống, những chiếc lá kim của chúng mượt như nhung, cành rũ rượi vì gió, ngọn cây oằn mình bởi hàng tấn tuyết. Rễ cây tỏa ra bên dưới thảm rừng như những mạch máu trên những bàn tay già nua, đẩy lớp đá granite vào rừng cây, nuôi dưỡng cây cối và động vật.

Nhưng sau đó, ở chỗ lằn sẹo, nơi lớp đá lấp lánh ánh kim loại sâu dưới lòng đất, rễ cây dừng lại. Giống như chiếc đường ray dừng lại giữa không trung ở cánh cổng bên dưới, như thế những người đàn ông đã bị đổ rơi xuống sông cho đến chết. Những chiếc rãnh này quá sâu để rễ cây tiếp tục lan ra, thứ đá người ta bới móc ra quá thô nên không thể cung cấp dưỡng chất, nước chứa quá nhiều axit nên không thể uống, những vết thương không thể liền lại. Tảng đá chứa kim loại lấp lánh dưới dòng nước rỉ ra từ các vách đá lởm chởm, địa y và rêu vẫn vắng bóng trên các thớ đá dù đã trải qua một thế kỷ an bình. Tôi có thể hiểu cú sốc của Hannah khi thấy Trái Đất đôi khi không thể chịu đựng nổi – không thể hồi phục – một vết thương quá lớn. Hành tinh của chúng ta chỉ có thể chịu tổn thương đau đớn đến một mức nào đó. Một vài kết nối đã quá hư hỏng, máu đã cạn khô, ngay cả đối với những bộ rễ cây có chức năng chữa lành tuyệt đẹp và ý chí kiên định của Cây Mẹ đầy sức mạnh.

Chúng tôi đi xuống cánh cổng thấp nhất. Vết nứt tạo ra mỏ khai thác ở độ cao này có kích thước nhỏ hơn – rừng chỗ này sẽ phục hồi. Hannah đếm số vòng lõi cây hằng năm vào ngày đếm lõi cuối cùng của chúng tôi và viết “tám mươi bảy năm”. Cô nàng nhét cái que đầy vòng lõi trở lại thân cây, bịt kín vết thương bằng dầu hắc ín rồi vỗ nhẹ vào lớp vỏ cây.