CÂU CHUYỆN TRÁI TIM – HỒI KÝ
Trích: Garchen Rinpoche – Lạt Ma Của Nhiều Đời Kiếp – Chạm Vào Trái Tim Sinh Động Của Thầy, Tuyển Tập Một Ngày Tháng Đầu Đời (1937 – 1958); Nguyên tác Anh ngữ: Sue-Sue (Tâm Bảo Đàn), Việt dịch: Tiểu Nhỏ – Hương Thủy – Tâm Bảo Đàn; NXB Tôn Giáo, Công ty TNHH Xuất bản Thiện Tri Thức.
“Mặt trăng này chính là của ta
Cái gì thuộc về ta
Rồi ra cũng chính là của con.”
(Tác giả khuyết danh Pháp)
Vào mùa hè năm 2007, tôi đóng cửa nhập thất một tháng để ngồi viết tiểu sử trong một căn chòi nhỏ thuộc về Traga Rinpoche ở Phật viện Garchen Institute tại thung lũng Chino, Arizona. Suốt thời gian đó, Garchen Rinpoche vẫn đang ẩn cư ở vùng núi Lapchi linh thiêng để thực hiện bộ phim “Vì Lợi Lạc Của Tất Cả Chúng Sinh.” Mùa hè năm ấy thung lũng Chino nóng bức một cách thật bất thường, và việc viết lách vì thế cũng trở nên khó khăn. Rất nhiều lần ngòi bút như bị bí kết, tôi không thể hạ bút xuống viết bất cứ điều gì và khi ấy có những khoảnh khắc tự ngờ vực đã xảy đến trong tâm, mà chủ yếu là do tôi không có niềm tin nơi khả năng của chính mình. Mỗi sáng tôi vẫn thực hành Đạo sư Du Già của Tổ Jigten Sumgon và buổi tối thì hành trì Tara.
Không thể theo chân Sư Phụ Garchen lên núi Lapchi vào năm ấy, tôi đã ngồi trong căn chòi nhỏ, quán tưởng Garchen Rinpoche đang ngồi trong hang động của Tổ Milarepa, rồi tôi khấn vái ngày đêm để tôi có thể “đem được tình yêu thương và lòng từ bi vô bờ bến của Rinpoche vào việc viết lách.” Khi tôi ngồi xuống trước cái máy tính quá khổ được tặng lại, câu tâm chú dưới đây đã cứ hiện ra trong đầu tôi lần này qua lần khác:
“Rinpoche ơi, xin hãy ban cho con một dấu hiệu… Xin hãy dẫn dắt đôi bàn tay con!”
Vì thiếu tự tin trong việc viết lách của mình, tôi chưa bao giờ cho ai xem bản thảo sách tiểu sử vào trước mùa hè năm ấy. Tôi thường lớn tiếng khấn cầu Rinpoche hãy gia hộ cho tôi. Tôi ước là có đủ tự tin để có thể giao bản thảo của mình cho một ai đó để họ có thể giúp duyệt xét lại. Tôi thực sự rất cần, cần đến mòn mỏi một người nào đó xuất hiện để giúp tôi hiệu đính bản thảo sách. Mùa hè năm ấy hầu như không có mưa ở thung lũng Chino, nhưng trong cái chòi bé tí của Traga Rinpoche, nước mắt tôi khi khẩn gọi Lama ở chốn xa lại luôn đong đầy…
Vào chiều ngày 12 tháng 7, khi tôi chuẩn bị thu dọn sách vở và máy tính xách tay ở chánh điện để quay trở về nhà của các Lama, thì có một người đàn ông Châu Âu có làn da rám nắng đã bước vào chánh điện cùng cô Trisha.
Ông ấy tự giới thiệu về mình và đưa tay ra bắt lấy tay tôi. “Tôi là Bertrand đến từ Mauritius.” Mauritius ư? Nơi ấy là đâu nhỉ? Tôi tự hỏi. Và như đoán được ý tôi, Bertrand đã nhìn tôi và lên tiếng nói tiếp rằng Mauritus là một hòn đảo nhỏ bên bờ biển Nam Phi. Ôi chao ơi, vì sao chỉ mới nhìn vào đôi mắt của ông ấy lần đầu tiên trong đời này, thế mà ngay cái khoảnh khắc ấy tôi đã gần như muốn rơi lệ mà chẳng hiểu vì lý do gì. Bỗng nhiên tôi có một dự cảm đặc biệt và phát sinh một niềm tin tưởng tuyệt đối vào người đàn ông lạ có mái tóc hoa râm này. Cảm giác này mới thật kỳ cục làm sao! Ngay buổi tối ấy chúng tôi gặp lại nhau lần nữa tại nhà của các Lama, và Bertrand nói với tôi rằng ông ấy là một nhà văn; trên thực tế, ông là một tiểu thuyết gia người Pháp có nhiều sách đã được xuất bản.
Vào ngày hôm sau Sư Phụ Garchen Rinpoche đã quay trở về lại Phật viện Garchen từ núi thiêng Lapchi, và hai hôm sau nữa vào ngày 15 tháng 7, Rinpoche đã bất ngờ bước vào căn chòi của tôi sau bữa ăn sáng của ngài. Ngài đưa cho tôi một tấm chăn len màu vàng, rồi Đạo sư của tôi đã thật bất ngờ mở xòe hai bàn tay tôi ra và thổi gia trì vào mỗi lòng bàn tay ấy.
Qua đến ngày 23 tháng 7, trên lối mòn dẫn đến chánh điện, tôi đã bước những bước hết sức chậm rãi, song không hiểu vì sao ngay lúc ấy, có một suy nghĩ kỳ lạ đã thoảng vụt qua trong đầu tôi, rằng tôi sẽ nhận được một dấu hiệu nào đó để chỉ ra cho tôi con đường đến được trái tim của Lama. Tôi không biết điều gì đã khiến tôi suy nghĩ như thế, mà tôi cũng không biết điều gì đã khiến tôi nhìn xuống dưới đất, nhưng vào ngay khoảnh khắc ấy thì tôi đã nhìn xuống và tôi đã bắt gặp một hòn đá có hình dáng tự nhiên của một trái tim chằng chịt vết sẹo.
Ngập tràn sung sướng, đêm đó tôi chìm vào giấc ngủ mà trong tay còn nắm chặt viên đá nhỏ để áp vào lồng ngực mình suốt đêm.
Rồi qua đến ngày 9 tháng 8, khi mặt trời đang chói tỏa, nóng đến như thiêu như đốt, trong khi tôi đang bước đi trên đoạn đường mòn quen thuộc dẫn đến chánh điện, thì ở ngay nơi chỗ tôi từng cúi xuống nhặt hòn đá hình trái tim chằng chịt vết sẹo lên vào hai tuần trước, thì lúc ấy một hòn đá khác đã ngay tức khắc đập vào mắt tôi! Nó là một hòn đá có hình một trái tim nguyên vẹn, to hơn và hiện ra rõ dáng một trái tim hơn, với viên mép trơn nhằn hơn chứ không xù xì.
Vào lúc cuối của đợt thuyết giảng mùa hè, tôi quyết định đưa Bertrand đến bảo tháp vào một buổi trưa nọ để giới thiệu ông ấy với Sư Phụ Garchen Rinpoche do bởi cách đó không lâu, tôi đã đường đột hỏi ông và ông đã hoan hỷ nhận lời giúp tôi hiệu đính quyển sách tiểu sử tiếng Anh của Rinpoche. Tôi đã đi cùng với Bertrand, Sỹ và Khenpo Tsultrim vào bên trong bảo tháp. Thật ra tôi không biết rằng đáng lẽ giờ đó phải là giờ nghỉ ngơi của Rinpoche, nhưng tôi đã ngồi xuống bên cạnh Rinpoche và rồi tôi bắt đầu nói. Giờ thì tôi nhớ ra rằng người bạn thân thiết của tôi, cô Kim Kai, người được giao nhiệm vụ làm hầu cận của Rinpoche vào trưa hôm đó ở bảo tháp, đã tròn mắt nhìn tôi. Cô ấy đã quá tử tế nên đã chẳng hề mở lời nói với tôi rằng bạn không nên vào đây, không ai nên vào đây để cho Rinpoche còn được nghỉ ngơi trong giờ giải lao. Khenpo đã giúp thông dịch cho tôi.
Rinpoche ơi ạ,” tôi nói, “con muốn đưa cho Người xem một vật. Thầy hãy nhìn vào hai hòn đá mà con tìm thấy đây ạ!”
Khi thốt xong câu ấy thì cảm giác trong lòng tôi như có một cái gì vừa được mở khóa, và tôi bắt đầu òa ra khóc sụt sùi, giống như một cái giếng nước tuôn trào từ đại dương của những cơn mưa đang trút xuống từ trời.
Ngay cái khoảnh khắc mà Garchen Rinpoche nhìn chăm chăm vào hai hòn đá đang chồng lên nhau giữa lòng bàn tay tôi, hòn đá nhỏ đặt phía trên hòn đá lớn, thì ngài đã tức thời nhẹ nhàng nhấc hòn đá nhỏ khỏi lòng tay tôi và rồi lại đặt nó vào lại ngay sát phía dưới hòn đá lớn. Đạo sư đã làm như thế mà chẳng hề thốt một lời nào, bởi cũng chẳng cần phải thêm lời giải thích nào nữa cả, vì bằng một cách nào đó mà Rinpoche đã nhận ra sự việc ngay tức khắc khi lần đầu nhìn thấy chúng – ngài đã thấy ra mặc nhiên chúng phải là như thế rồi.
Trước sự ngỡ ngàng tột độ của tôi, hai trái tim lắp khớp vào với nhau, như hai mảnh ghép của trò chơi ghép hình.
Sau đó, thật từ tốn, Rinpoche đã lật qua mặt sau của hai hòn đá.
Thầy chỉ vào mặt sau của chúng rồi nói:
“Xem này. Tương tự như thế này, đây là trái tim của ta. Còn đây là trái tim của con!”
Mặt trước của cả hai hòn đá không giống nhau là mấy. Hòn đá lớn thì gần như là không tỳ vết, còn hòn nhỏ hơn thì mang nhiều khiếm khuyết, loang lổ đầy vết sẹo. Ồ, trông nó thật chẳng khác gì những bất tịnh phàm tục, những cảm xúc đầy phiền não và cả những hành nghiệp bất thiện của tôi! Song ta có thể thấy rõ mặt sau của cả hai hòn đá này… thì lại sạch sẽ, không tỳ vết, và hình thù thì lại giống như bên trong của hai trái tim, với hình dạng và động mạch giống y nhau.
Chỉ sau rất nhiều năm tháng trải qua thế sự vô thường, bây giờ khi tôi suy niệm về những lời dạy của Garchen Rinpoche vào buổi trưa hôm ấy ở Thung Lũng Chino lúc tôi vô tình bước vào gặp Rinpoche khi ngài đang nghỉ ngơi, thì tôi mới càng thấy rõ hơn nữa, rằng Rinpoche đã từ bi như thế nào khi đã ban cho tôi những lời khai thị thật giản dị, chân thực ấy, và đã từ bi như thế nào khi cho phép tôi chạm đến được trái tim bao la của Rinpoche, dù thật ra, trên thực tế, thì những viên đá đó cũng chỉ là vật ngoài thân mà thôi. Nhưng rốt ráo, những lời khai thị của Rinpoche đã có sức mạnh tựa hàng trăm nghìn luồng sấm sét có thể xé toạc màn đêm của bầu trời đen kịt!
“Nhìn này, chúng giống nhau đấy. Đây là trái tim của ta. Còn đây là trái tim của con!”
Phải rồi, tiềm năng vốn sẵn có và bản thể tâm thì vốn đồng như nhau!
Hơn thế nữa, khi Thầy nói rằng “Đây là trái tim của ta”, Thầy không phải chỉ thuần túy đang nói về bản thể nội tâm của trái tim của ngài, cũng như khi nói “Đây là trái tim của con”, thì cũng chẳng phải Thầy đang thuần túy ám chỉ bản thể nội tâm của trái tim tôi.
Vì “của con” ở đây là đang muốn nói tới cái cũng thuộc về tất cả các bạn, tất cả chúng ta, tất cả chúng sinh. Và “của tôi” ở đây cũng chính là của bạn đấy!
Bốn năm sau, vào ngày tôi quyết tâm ngồi xuống trì tụng ba mươi bảy lần toàn bộ tập sách Luận Đại Trượng Phu để hồi hướng cho việc hoàn thành Tuyển Tập Thứ Nhất trong chuỗi tiểu sử của Garchen Rinpoche, có một điều như thế này đã tự nhiên hiện ra trong tâm tôi khi ấy:
Trái tim của Đạo sư, của bạn, của tôi, của hết thảy chúng sinh… đồng là một và như nhau.
Và chỉ khi nào những nhị nguyên về ta và người thực sự tan rã, khi ấy, và chỉ khi ấy, sự trao truyền, tâm truyền đích thực, mới có thể xảy ra.
Tôi ước ao thay trong tương lai, thông qua chính những trải nghiệm của bản thân chúng ta về mọi vui, khổ trong cuộc đời này mà hết thảy chúng ta đều có thể thâm nhập được bản thể tâm cùng với Garchen Rinpoche và các bậc Đại Trượng Phu!
