MẠNH TỬ, THÁNH NHÂN TRƯỞNG THÀNH TỪ BÀI HỌC BA LẦN CHUYỂN NHÀ CỦA MẸ

Trích: Lịch Sử Triết Học Phương Đông Viết Cho Thanh Thiếu Niên; Người dịch: Lương Mỹ Vân – Kim Sang Ho; NXB Thế giới; 2021

19/07/2026
21 lượt xem

Mạnh Tử sinh ra ở huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông, tên là Kha, tự là Tử Dư hoặc là Tử Xa. Lên ba tuổi thì cha mất, mẹ ở vậy nuôi dạy ông trưởng thành. Khác với Khổng Tử là người chín chắn sớm, Mạnh Tử thời nhỏ rất nghịch ngợm. Vốn tính hay bắt chước, Mạnh Tử rất dễ bị ảnh hưởng bởi những thói quen tập quán của những người xung quanh, vì thế mà mẹ ông phải đã phải ba lần chuyển nhà để dạy dỗ ông. Câu chuyện nổi tiếng này được gọi là “Mạnh mẫu tam thiên chi giáo” (lời dạy thông qua ba lần chuyển nhà của mẹ Mạnh Tử).

Sách Liệt nữ truyện viết về chuyện này như sau. Mạnh Tử khi còn nhỏ, nhà ở gần nghĩa địa. Mạnh Tử bắt chước người ta đào mộ, chôn cất rồi khóc lóc; nhìn thấy con chơi như vậy, Mạnh mẫu nghĩ: “nơi này không phải là chỗ có thể nuôi được con ta,” và bà chuyển nhà đến gần chợ. Nhưng ở đó cũng không khác gì, Mạnh Tử bắt chước những người ở chợ buôn qua bán lại, Mạnh mẫu thấy thế nghĩ: “nơi này cũng không thể dạy dỗ được con ta.” Bà bèn chuyển nhà đến gần trường học. Và từ đó trong các trò chơi của mình, Mạnh Tử học cách sắp đặt đồ tế tự, chào hỏi người lớn, khiêm tốn, nhường nhịn, đến lúc đó mẹ của Mạnh Tử mới cảm thấy nhẹ lòng mà nghĩ: “đây mới đúng là nơi có thể dạy được cho đứa con ta.” Từ câu chuyện này, người đời sau coi Mạnh mẫu là tiêu biểu cho sự giáo dục của người mẹ đối với con cái.

Thời Xuân Thu là sinh thời Khổng Tử hay thời Chiến Quốc lúc Mạnh Tử sống và hoạt động đều là những thời kỳ chính sự rất hỗn loạn. Dù vậy, về mặt văn hóa, hai thời kỳ này lại chứa đựng những ý nghĩa vô cùng to lớn. Đó là thời đại vô số các nhà tư tưởng nổi lên, nhiều đến mức người ta gọi là thời kỳ “Chư tử Bách gia (hàng trăm học phái tư tưởng)”, ngoài Nho gia còn có Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Binh gia v.v… cùng với hàng loạt các học thuyết hoang đường vô lý cũng chen nhau xuất hiện. Đối kháng với những học thuyết nhiều phần hỗn tạp đó, nhân vật thuộc học phái Nho gia mà tên tuổi nổi bật hẳn lên chính là Mạnh Tử.

Ngoài chuyện đã kể trên, liên quan đến Mạnh Tử còn nhiều giai thoại nổi tiếng khác. Khi Mạnh Tử còn nhỏ, chơi ở gần nhà hàng xóm, thấy họ bắt lợn liền chạy về nhà hỏi mẹ:

“Người ta bắt lợn làm gì đấy ạ?”

Mạnh mẫu thuận miệng đáp mà không nghĩ ngợi gì:

“Họ bắt để thịt cho con ăn đấy.”

Nhưng ngay sau đó bà rất hối hận với lời của mình:

“Theo như ta biết thì trước đây có cái gọi là ‘thai giáo’ [giáo dục con cái từ thuở còn trong bụng mẹ, bằng hành động đúng đắn và tấm lòng đúng đắn của người mẹ], con nhỏ vì muốn biết mà hỏi, nếu ta nói dối thì có khác gì dạy con những việc bất tín?”

Suy nghĩ như thế, cuối cùng Mạnh mẫu đã qua nhà hàng xóm năn nỉ mua thịt lợn đó cho con ăn.

Khi đi học, Mạnh Tử đã rất chăm chỉ học tập tại trường. Vài năm sau thầy giáo gọi ông đến và nói:

“Cậu đã học tất cả những gì ta có thể truyền dạy rồi, từ giờ cậu đến đây nữa cũng phí thời gian vô ích thôi.”

Vì thế Mạnh Tử đã tìm đến Khúc Phụ, kinh đô của nước Lỗ, để theo học môn hạ của Tử Tư – cháu của Khổng Tử. Mạnh Tử ở cách nơi sinh thành của Khổng Tử chỉ có sáu dặm nên nhanh chóng tiếp nhận ảnh hưởng của Khổng Tử và đặt ra mục tiêu trở thành thánh nhân như Khổng Tử. Ít lâu sau, khi đang học cưỡi ngựa thì Mạnh Tử bị ngã ngựa và bị thương ở chân, ông nghĩ đến mẹ và cho rằng mình xa mẹ đã lâu nên quay trở lại quê hương. Mạnh mẫu khi ấy đang dệt vải, thấy Mạnh Tử quay về liền hỏi:

“Con đã học được nhiều chưa?”

Mạnh Tử đáp:

“Hầu như chưa tiến bộ ạ.”

Mạnh mẫu nghe lời đáp liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt và nói:

“Con đang học mà bỏ dở thì cũng giống như ta dùng dao cắt bỏ tấm vải đã mất công dệt đến bây giờ.”

Mạnh Tử hiểu ra, gấp rút quay trở lại nơi học. Từ đó, ông ngày đêm miệt mài học tập không ngơi nghỉ. Đây là giai thoại “Mạnh mẫu cắt tấm vải dạy con”.

Mạnh Tử tiếp thu Nho học chính thống từ môn hạ của Tử Tư – vốn vừa là cháu nội của Khổng Tử, vừa là học trò của Tăng Tử, sau đó chu du qua nhiều nước với mong muốn thực hiện lý tưởng của Nho gia. Khoảng 40 tuổi, ông tiến lên trên con đường hoan lộ tại nước Trâu, nhưng do thất vọng với thế cuộc hỗn loạn, ông đã rời bỏ quan trường. Cùng với hàng trăm đệ tử, khi di chuyển trên hàng chục cỗ xe thì không khác gì một đám rước lớn, với lòng dũng cảm có thừa và một khí chất mạnh mẽ, ông đi gặp nhiều vị vua của các quốc gia khác nhau và thuyết phục họ thực hiện nền chính trị lý tưởng. Cho đến năm 84 tuổi, ông cùng các học trò rèn luyện công phu, truyền giảng về lý tưởng của bản thân, và để lại sách Mạnh Tử.

Tính người vốn thiện

Thiên tính của con người là thiện hay là ác? Về vấn đề này có hai thuyết, “thuyết tính thiện” của Mạnh Tử và “thuyết tính ác” của Tuân Tử. Mạnh Tử cho rằng bản tính của con người là thiện. Thiên tính của con người, cũng giống như dòng nước luôn luôn chảy xuôi, chỉ đi theo hướng cái thiện. Người ta sinh ra ở đời, để bước trên con đường đúng đắn thì chỉ cần đi theo cái đã có sẵn trong tâm mỗi người là đủ, không nhất thiết phải học theo cuộc đời của các bậc hiền giả. Chỉ cần nghiêng tai lắng nghe tiếng thì thầm của lương tâm tốt đẹp vốn có sẵn trong tâm ta. Từ điểm này mà nói, thì tất cả những sai lầm và tội lỗi của con người đều bắt nguồn từ bên ngoài, từ cái chế độ xã hội không hoàn bị đã ràng buộc con người, và từ sai lầm của những người nắm quyền thống trị đất nước.

Vậy thì, làm thế nào ta có thể biết được tính người là thiện? Về việc này Mạnh Tử đưa ra ví dụ như sau:

“Con người luôn có cái tâm ‘không nỡ’ trước nỗi thống khổ của người khác. Giả như nhìn thấy một đứa bé bị ngã xuống giếng, không ai không hoảng hốt mà nhào tới tìm cách cứu nó. Đó không phải là vì muốn kết thân với cha mẹ của đứa bé, cũng không phải là muốn nhận được lời khen ngợi từ hàng xóm hay bạn bè, cũng không phải là vì sợ mang tiếng xấu là tàn nhẫn. Theo đó thì thấy không có lòng trắc ẩn thì không phải là con người vậy…”

Cũng trong văn cảnh ấy, mạnh tử nói về bốn “đầu mối của tính thiện” ở con người:

“Cái tâm trắc ẩn là khởi đầu của lòng yêu thương, biết xấu hổ là khởi đầu của nghĩa khí, lòng từ nhượng là khởi đầu của lễ, lòng biết phân biệt đúng sai là khởi đầu của trí.”

Câu nói trên có thể được giải thích rõ hơn như sau: Đầu tiên, bất cứ ai khi nhìn thấy nỗi khổ của người khác thì tâm cũng đều cảm thấy xót xa, đó là bằng chứng cho thấy mọi người bẩm sinh đều có lòng thương người. Thứ hai, bất cứ ai trước lỗi lầm của mình cũng đều thấy xấu hổ, đó là bằng chứng cho thấy mọi người bẩm sinh đều có nghĩa khí. Thứ ba, bất cứ ai cũng có thể nhường nhịn làm lợi cho người khác, đó là bằng chứng cho thấy mọi người bẩm sinh đều có lễ nghĩa. Và thứ tư, người nào cũng có thể phán đoán đúng sai, đó là bằng chứng cho thấy mọi người bẩm sinh đều có trí tuệ.

Như vậy, nếu cứ hành động theo bản tính có sẵn từ khi được sinh ra thì con người ai cũng có thể trở nên lương thiện. Tuy nhiên, dù con người đã có sẵn cái tâm lương thiện, nhưng, giống như một đốm lửa hoặc một dòng chảy nhỏ, nếu được dẫn dắt đúng đắn thì có thể cháy bùng lên hoặc trở thành dòng sông lớn, nếu không thì rất dễ lùi tắt hoặc cạn khô. Cũng như vậy, tính con người có hai khả năng, vừa có thể trở nên lương thiện, vừa có thể trở nên ác độc. Vì thế ở đây, vấn đề đặt ra là phải thúc đẩy phát triển cái nỗ lực trở nên lương thiện của con người, và con người chúng ta phải không ngừng tu dưỡng bản thân.

Bất động tâm và hạo nhiên chi khí

Để tu dưỡng chúng ta phải làm gì? Mạnh Tử đưa ra phương pháp tu dưỡng gọi là “tồn tâm dưỡng tính”, chủ trương rằng chúng ta phải bảo tồn thật tốt cho hạt giống lương thiện có sẵn trong tâm ta, và đồng thời nuôi cho nó lớn lên. Có như vậy thì dù có bị cám dỗ từ bên ngoài như thế nào tâm ta vẫn không lay động, tức là đạt đến bất động tâm (cái tâm bất động). Để đạt đến bất động tâm, ta phải làm thế nào?

Mạnh Tử cho rằng đầu tiên, ta phải nuôi dưỡng cái dũng khí đích thực (đại dũng) của ta. Dũng khí đích thực là đức tính trung dung ở giữa các thái cực ngông cuồng và hèn nhát. Nghĩa là khi tự phản tỉnh, nếu ta cho rằng bản thân mình không có nghĩa lý thì dù là người dân thường áo vải ta cũng sợ hãi, nếu ta nghĩ rằng bản thân mình có nghĩa lý thì kể cả có ngàn vạn người cũng không sợ hãi. Chính là nhờ dũng khí ấy mà có thể nuôi dưỡng được bất động tâm.

Thứ hai, để có được cái tâm tĩnh lặng thì ta phải rèn luyện được cái “khí hạo nhiên” (hạo nhiên chi khí). Khí hạo nhiên là cái bản nguyên to lớn nhất, mạnh mẽ nhất. Nếu không làm nó bị tổn hại và nuôi dưỡng nó một cách chính đáng thì nó sẽ lớn mạnh bao trùm toàn vũ trụ. Tuy nhiên nó không phải là cái có thể có được chỉ nhờ hành động hợp với điều nghĩa ở bên ngoài, mà phải hết sức nỗ lực nuôi dưỡng hạt mầm nghĩa lý ở bên trong. Nỗ lực ấy không được phép bị gián đoạn dù chỉ trong thời khắc ngắn ngũi nào. Và ta cũng phải liên tục giữ nó trong tâm, không để mất nó.

Nhưng mặt khác cũng không thể bắt ép nó lớn lên được. Nước Tống có người thấy ruộng nhà mình mạ gieo mãi không lớn thì lo lắng, cầm từng cái mạ kéo lên rồi mệt mỏi lê bước về nhà nói với mọi người: “Hôm nay ta đã giúp cho mạ nhà ta mau lớn, mệt quá.” Con ông ta ngạc nhiên chạy ra ngoài đồng xem, thì mạ trong ruộng đã héo rũ chết hết cả. Mạnh Tử cho rằng trên đời này, những người muốn nuôi dưỡng cái khí của mình mà lại thúc cho nó phát triển như cách của người nước Tống kia, thực ra có rất nhiều và ông hết sức phê phán điều đó.

Người tu dưỡng tốt thì những tín niệm đạo đức tuyệt đối không bị lay động trước sự quyến rũ của những mong muốn vật chất, hơn nữa ngay cả trong cảnh cùng khốn hoặc bị uy hiếp cũng không đánh mất nguyên tắc nhân nghĩa của bản thân mình. Như lời Mạnh Tử nói: “phú quý mấy cũng không sa đọa, bần tiện mấy cũng không thay đổi ý chí, bị vũ lực uy hiếp mấy cũng không khuất phục.” Thường thì con người khi có nhiều tiền, tính cách dễ trở nên sa đọa và rơi vào rượu chè cờ bạc, người tu dưỡng đạo đức tốt thì sẽ tránh những nguy cơ ấy. Người quá nghèo khó về mặt vật chất thì dễ trở nên luồn cúi, ba phải, ngả nghiêng, mà đôi khi cũng không ý thức được điều đó, nhưng người tu dưỡng tốt về đạo đức thì sẽ không trở nên như thế. Người ta thông thường trước tình huống nguy hiểm đến tính mạng thì quỳ gối khuất phục, nhưng người tu dưỡng hoàn hảo về đạo đức thì cho dù có nguy cơ mất mạng cũng vẫn bảo vệ được nguyên tắc của mình.

Những người như thế dù có trúng số và giàu lên nhanh chóng thì cũng không vung tay quá trán, dù có trở nên nghèo khó không biết dựa vào đâu đi nữa thì cũng vẫn giữ vững đạo lý làm người, dù có bị áp bức đến đâu cũng không chịu khuất phục.