QUỐC SƯ ĐẠI ĐĂNG GIẢNG VỀ CHỨNG NGỘ

THIỀN SƯ ĐẠI ĐĂNG

Trích: Quốc Sư Đại Đăng Và Sơ Kỳ Thiền Tông Nhật Bản; Thuần Bạch dịch

Cốt tủy Thiền của Đại Đăng cô đọng trên cuộn giấy vẽ đã được bảo tàng nhiều thế kỷ, với hàng chữ của Sư:

“Một khi bất chợt bùng vỡ, và tiếp tục một bước nhảy qua, ông sẽ thấy mọi vật quanh mình và mọi sự mình làm, dù động hoặc tịnh, đều phóng chiếu từ nền tảng căn để là Bản Tâm. Sẽ không có một mảy may dị biệt giữa ông và mọi vật khác – sẽ không có sự vật nào khác”.

Một hướng để Đại Đăng nhấn mạnh tính ưu việt của chứng ngộ là thường xuyên tham chiếu kinh nghiệm ngộ của chư Tổ Thiền tông. Sư khẳng định, tuy hoàn cảnh có thể khác, ngộ chủ yếu không đổi:

“Nhị Tổ Huệ Khả đứng trong tuyết chặt cụt tay, và ngộ. Lục Tổ nghe một người đọc một câu trong kinh Kim Cang: “Nên không trụ chỗ nào mà sanh tâm kia (Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm)”, liền ngộ. Linh Vân ngộ khi thấy hoa đào nở; Hương Nghiêm khi nghe tiếng sỏi chạm bụi tre; Lâm Tế ăn sáu mươi gậy của Hoàng Bá, bừng ngộ. Động Sơn (Lương Giới) băng qua suối thấy bóng mình dưới nước, chợt ngộ. Trong từng trường hợp, các vị đều bắt gặp Ông Chủ”.

Trong tất cả những kinh nghiệm ngộ, lẽ dĩ nhiên bậc tối thượng hơn hết đã triệt chứng là Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Đại Đăng chọn cử hành lễ khánh thành chùa Đại Đức vào ngày kỷ niệm thành đạo của đức Phật, mồng tám tháng chạp. Trong buổi lễ Sư đọc lên bài kệ, dựa trên sự tích Đức Phật giác ngộ trong núi tuyết Hi-mã-lạp-sơn:

“Chợt thấy sao mai, và tuyết càng thêm trắng. Ánh mắt của Ngài lạnh rởn tóc thấu xương. Nếu trần gian tự chứng nghiệm phút giây này, Lão Thích-Ca đã chẳng bao giờ giáng sanh”.

Bài kệ này tán thán nhất tính của Đức Phật với vũ trụ. Bởi vì cả hai đều cùng giác ngộ, ngay cả tuyết trắng càng trắng vào thời điểm khải hoàn này. Đại Đăng đề cập thân mật đến Đức Phật (gần như thiếu tôn kính), gọi là “Lão Thích-Ca” ý muốn nhắc đến thính chúng của Sư rằng trong kinh nghiệm ngộ của Đức Phật ai cũng có phần. Đại Đăng nói về ngộ với nhiều ý nghĩa. Khi Sư kể lại những biến động thúc đẩy chư Tổ đến giác ngộ, Sư nêu lên ý nghĩa “bùng vỡ”; trong dịp khác Sư bày tỏ tâm thái chứng ngộ đậm đà cảm xúc:

“Tâm này tròn đầy, động chuyển với tinh thần tỉnh giác lặng lẽ và chiếu sáng. Nó trùm khắp không trung, che hết mọi đại địa, đâm thủng sắc tướng, vượt lên âm thanh. Nó mở rộng không bờ bến; nó xuất hiện trên đỉnh cao với dốc đứng hiểm nghèo… Nó là tia sáng chiếu rọi từ đảnh môn, soi sáng chỗ nào đang đứng; nó là cơn gió kinh thiên động địa, nổi lên từng bước chân đi, bao phủ mọi sự… Nếu ông hội được tâm này là mình, thậm chí ông không tìm cái ưu việt, cái ưu việt vẫn tự đến. Không tìm giải thoát, ông cũng chẳng hề bị một vật cỏn con nào trói buộc”.
Dù Đại Đăng bảo rằng Tâm này không thể đạt được bằng ngôn ngữ hay vô ngôn, Sư vẫn không tránh khỏi ca tụng với ngữ ngôn:

“Trước khi cái vô thủy khởi thủy, trước cả sự xuất hiện vị Phật đầu tiên, ánh sáng của Tâm này đã chiếu soi thấu suốt. Nó soi sáng cả bầu trời, và là tấm gương tròn đầy trên trái đất, bao trùm mọi vật và hiển hiện mọi vật. Mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, hành tinh, sấm sét – mọi sự không trừ điều gì đều thọ nhận ân đức của nó”.

Như chúng ta đã ghi nhận, từ “kiến tánh” được sử dụng rộng rãi trong Thiền tông Nhật Bản; xuất xứ có thẩm quyền của từ này ở trong Pháp Bảo Đàn Kinh và bài kệ của Tổ Đạt-Ma. Đại Đăng dùng từ này tự do trong hai bài giảng viết bằng chữ Nhật phổ thông, đặt từ này ngang hàng với sự chứng ngộ ở cấp độ cao nhất: “Khi thực sự kiến tánh ông siêu vượt sanh tử và Niết-bàn, và thường trụ Phật giới”. Hoặc là: “Nếu muốn gặp chân Phật, ông phải kiến tánh. Dù có niệm Phật, tụng kinh và giữ giới, ông cũng chỉ phí thời gian mà thôi, trừ phi ông kiến tánh”. Tuy danh từ “kiến tánh” không thấy trong ngữ lục chính thức của Đại Đăng, chắc chắn Sư phải nói ra khi dạy dỗ môn sinh của mình. Trong tự truyện của Trạch Am về Sư, một vị tăng hỏi: “Kiến tánh thành Phật là gì?” Đại Đăng đáp: “Tuyết tan thì sườn núi lộ”.

Đại Đăng thích dùng nhiều thuật ngữ Phật giáo đồng nghĩa để chỉ cho ngộ hoặc chơn tánh. Dù danh xưng có khác, vật muốn nói đến không khác: “Cũng giống như một đứa trẻ ra đời từ đầu không có tên, về sau đặt nhiều tên khác nhau”. Trong một bài thuyết pháp tương đối ngắn Sư dùng ít nhất hai mươi tên luân phiên nhau: Đạo, Phật pháp, Tự tánh, Phật, Tâm, Không, Chân thân của Không, Chân thân của Tâm, Bản Lai Diện Mục, Bản Lai Diện Mục trước khi cha mẹ sinh, Phật thân, Pháp thân, Ông chủ, Bổn sư, Phật tánh, Chân Phật, Phật đạo, Nhất Tâm, Phật Tâm và “trú xứ bất khả tri”. Ở chỗ khác, trong một bài kệ ngắn, Đại Đăng lặp lại sự kiện Sư không bám chặt vào bất kỳ danh từ nào trong các thuật ngữ kể trên:
“Mê”, “ngộ” chỉ là lời nói ma mị làm điên đảo Thiền tăng khắp nơi.

Đại Đăng nhấn mạnh đến tính ưu việt của giác ngộ trong bài Khuyến Văn Tối Hậu. Khuyến Văn thực ra là tổng hợp hai đoạn ngắn tìm thấy trong tự truyện Đại Đăng của Trạch Am, đoạn thứ hai viết:

“Sau khi ta dọn đến đây, học nhân của ta trụ trì ngôi chùa lộng lẫy, bận rộn với nhiều tăng chúng. Khung bao trên Phật điện và liễn thiếp chép kinh sơn son thếp vàng. Có học nhân tụng kinh, trì chú và tọa thiền dài lâu không nghỉ lưng. Họ ăn ngày một bữa trước ngọ và lễ lạy Phật sáu thời mỗi ngày.

Trường hợp nào cũng vậy, nếu diệu đạo bất khả truyền của chư Phật và chư Tổ không nằm trong lòng họ, dây nghiệp nối liền họ với những bậc tôn túc sẽ đứt mất, chân phong của Thiền sẽ chìm sâu trong lòng đất, và họ sẽ kết bạn với ác ma. Sau khi ta rời khỏi trần gian, họ không bao giờ được xem là con cháu của ta.

Tuy nhiên nếu có một người sống cao thượng giữa đồng trống, ngụ trong chòi tranh nghèo nàn, ăn rễ cây [rau] nấu trong nồi sứt chân, và dành hết thời gian chuyên tâm tham cứu chính mình, thì người đó sẽ gặp ta mặt nhìn mặt hằng ngày và báo đền được ơn nặng. Có người nào buông trôi lơi lỏng không? Gắng lên, gắng lên!”

Một lần nữa Đại Đăng chỉ rõ chứng ngộ trên hết mọi khía cạnh khác trong đời sống tôn giáo, và những khía cạnh khác đều vô nghĩa ngoại trừ ta hiện thực được “diệu đạo bất khả truyền của chư Phật và chư Tổ”. Thiền sinh thiếu sự chứng ngộ chẳng những sẽ chính mình đau khổ, mà còn đẩy sự truyền trao chánh pháp vào hiểm nghèo. Ngược lại, bất cứ ai hành trì chân thật, theo đúng tinh thần giác ngộ, người đó là con cháu và bạn đồng hành thật sự của vị thầy.

THI KỆ TRƯỚC NGỮ CỦA ĐẠI ĐĂNG

Tọa Thiền
Thật là chán ngắt khi ngồi vô ích trên sàn, chẳng tham thiền, chẳng bùng vỡ. Hãy xem bầy ngựa chạy đua dọc con sông Gia Mậu. Đó là tọa thiền.

Chư Phật
Nam Tuyền bảo, “Ta chẳng biết gì về chư Phật trong ba cõi”.
Nếu biết có chư Phật
trong ba cõi;
bỗng chốc mùa xuân không có hoa,
mùa thu không có trăng rằm.

Bình luận


Bài viết liên quan

  1. THIỀN ĐỊNH
  2. THIỀN QUÁN ĐẠI ẤN
  3. THẾ GIỚI LÀ VIÊN NGỌC SÁNG

Bài viết mới

  1. LOẠI BỎ NĂNG LƯỢNG TIÊU CỰC
  2. CON CHỒN CỦA HÒA THƯỢNG HƯ VÂN
  3. BỘ NHỚ QUÁ TẢI