SỰ THẨM SÁT KHÔN NGOAN CỦA TÂM
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN
Chúng ta vừa bàn về những nguyên tắc căn bản để thực hành vipassanā một cách nghiêm túc. Hy vọng từ đây, bạn bắt đầu xây dựng được một chút kỹ năng và phương án, để có thể áp dụng trong cuộc sống hằng ngày. Bây giờ, bạn có thể bắt đầu nhìn nhận ra những nguyên nhân và điều kiện về sự tồn tại của mình một cách thực tế hơn. Bạn đã có thể nhìn vào chân lý thứ hai trong Tứ Diệu Đế mà Đức Phật đã dạy – nguyên nhân của khổ – với sự hiểu biết đến từ chính sự thực hành và quán chiếu tâm mình. Nếu chúng ta lạc lối trong mê cung và muốn tìm lối ra thì việc xem lại cách mình đã đến đó sẽ vô cùng hữu ích. Chúng ta có thể nhìn vào những hệ quả và chuỗi sự kiện dẫn đến những gì đang diễn ra ngay trong hiện tại. Đây là lý do mà chúng ta hành thiền, để hiểu ra mối quan hệ nhân quả, ngộ ra trí tuệ giúp cắt đứt và vượt qua vòng tròn sinh tử gây ra cho chúng ta bao nhiêu đau khổ và bất hạnh.
Trong phần này, chúng ta sẽ thực hành một số kỹ thuật thực tế bằng cách nhìn vào những khuynh hướng xung quanh những khó khăn mình có thể gặp phải trong cuộc sống này. Thời điểm cuối thiếu niên và đầu 20 tuổi, tôi đã phải vật lộn với trầm cảm mãn tính. Những trải nghiệm tôi chia sẻ ở đây cùng với cách mà tôi dùng để đối chọi với căn bệnh này có thể giúp cho độc giả suy ngẫm. Nhiều người trong các bạn sẽ nhận ra một số khuynh hướng và trải nghiệm quen thuộc trong chính cuộc sống của mình, từ đó có thể tìm thấy được nguồn cảm hứng, để mang lại sự hiểu biết vào trong chính thực hành của mình. Chỉ khi tâm được giải thoát khỏi tham, sân và si, chúng ta mới có thể thực sự nhìn thấy sự vật như nó đang là.
Vào năm hai đại học, khi tôi 20 tuổi, anh trai cả của tôi, người đang làm trong doanh nghiệp gia đình, qua đời vì bệnh bạch cầu. Sự ra đi của anh ấy đã gây ra một cú sốc lớn cho gia đình vì anh mới chỉ 38 tuổi. Cha thấy trong số các con trai, tôi là người ít bỏ nỗ lực ra học nhất, nên ông quyết định cho tôi nghỉ học để giúp đỡ công việc kinh doanh của gia đình. Đây là một cú sốc và là sự gián đoạn lớn trong cuộc đời tôi. Tôi đột ngột bị tách ra khỏi các mối quan hệ xã hội vui vẻ náo nhiệt với bạn bè để đi đến nơi, với tôi, đó là trách nhiệm của người lớn. Tôi thích đi học và quây quần với bạn bè, và, mặc dù những hành vi của tôi có những dấu hỏi về mặt đạo đức thì tôi đang dần tự tin trong việc học, đủ để có thể tốt nghiệp đại học. Giờ đây, tôi lại phải chịu sự giám sát chặt chẽ của cha, người ở bên cạnh tôi cả ngày ở cửa hàng. Tôi dễ và thường bị lo lắng, cũng như dễ nổi giận. Điều này trở thành một vấn đề khá lớn trong cuộc sống của tôi.
Chợ Theingyi Zay, trung tâm Yangon, khu B, cửa hàng, bây giờ là môi trường làm việc ban ngày của tôi. Theingyi Zay nằm ở khu người theo đạo Hồi ở trung tâm Yangon, liền kề với khu phố Tàu, nơi ưa thích của tôi và bạn bè. Toà nhà B, nơi có mái vòm cao với dầm gỗ tếch là một nơi rất ồn ào và nhộn nhịp với những giao dịch mua bán, cũng như nhiều tiếng la hét, chửi thề giữa các chủ cửa hàng. Cha tôi là một doanh nhân rất nhạy bén, và vì đất nước đã suy thoái trong nhiều năm, nên ông phải sử dụng nhiều cách thức để có thể vượt lên các đối thủ cạnh tranh. Ông đã phát triển một phương pháp cắt may cổ tàu choáo nam truyền thống từ một cuộn vải mà không để lại vải thừa, tên áo là taik poun eingy – một trang phục lịch sự. Theo cách làm truyền thống, áo taik poun eingy phải được may đo riêng thì mới vừa vặn. Chúng tôi là cửa hàng đầu tiên sản xuất hàng loạt sản phẩm này. Điều này, cho phép chúng tôi định giá sản phẩm của mình cạnh tranh hơn so với các nhà cung cấp và cửa hàng khác trong thành phố. Vì được sản xuất hàng loạt, chúng tôi cũng có thể bán sỉ cho các cửa hàng khác trong thành phố, qua đó đảm bảo được doanh số ổn định.
Chính trong môi trường này, tôi đã bắt đầu nhận thức rằng trầm cảm đang là một vấn đề lớn trong cuộc sống của mình.Tôi không phải là một người hạnh phúc. Bạn bè đang dần tách ra thành các nhóm khác nhau khi vào đại học khiến tôi đang tự hỏi là điều gì đang xảy ra với cuộc sống của mình. Tôi đang trở thành một chàng trai trẻ dễ nóng giận. Cuộc sống này không còn vui vẻ nữa và tôi rất cô đơn. Với nền tảng thực hành pháp (dhamma) sẵn có, và vì cảm thấy không còn lựa chọn nào khác, tôi bắt đầu sử dụng môi trường ở chợ và những gì diễn ra ở đó,để thực hành thiền. Chợ trở thành thiền đường của tôi. Nói dối, lừa lọc, đồn đoán, và những ngôn ngữ thô tục là chuyện rất đỗi bình thường, đôi khi nếu tôi không có nhận biết thì rất dễ bị cuốn vào những hỗn loạn của tất thảy những điều đó. Tôi thậm chí còn trêu ghẹo đến cả người ăn xin thường đến khu này. Một ngày nọ, ông ấy tức giận với tôi đến mức ném tất cả những đồng tiền mà người ta đã cho ông ấy xuống sàn. Mặc dù bị cuốn vào cách hành xử như thế, nhưng sau đó tôi cũng dần cảm nhận được hậu quả do những hành vi tiêu cực mình đã gây ra. Tôi nhìn vào những phản ứng trong tâm và đã tự hỏi: “Điều gì đã đưa tôi đến nơi này? Tại sao tôi cảm thấy không hạnh phúc? Nguyên nhân của những cơn giận này là gì?”. Tôi đã nỗ lực để thực hành nhận biết, nhưng, trí tuệ chưa đủ mạnh để chống lại phiền não trong tâm, và hết lần này đến lần khác, tôi bị cuốn vào những hành vi mất kiểm soát.

VIPĀKA (QUẢ)
Quả (vipāka) là một từ mang ý nghĩa sâu sắc; có thể nói rằng mỗi khoảnh khắc sống đều là kết quả hoặc hệ quả từ những hành động trong quá khứ. Mỗi phản ứng xảy ra ở khoảnh khắc hiện tại chính là nền tảng định hình cho tương lai. Trong từ “consequence” (quả) cũng bao hàm từ “sequence”, tức là chuỗi các sự kiện (tiến trình) dẫn đến kết quả ấy. Việc thẩm sát và hiểu được sự vận hành này trong đời sống chính là bản chất tự nhiên và cũng là cốt lõi của thực hành thiền vipassanā. Chúng ta thường biết đến tiến trình nhân quả như là kamma (nghiệp), hay “hành động” – sự tiếp diễn của cuộc sống, bao gồm cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Thường ngày, chỉ khi một kết quả đau khổ đến thì mình mới hay tự hỏi rằng: “Tại sao điều này lại đến với tôi?” Còn khi cuộc sống suôn sẻ và hạnh phúc, chúng ta thường chỉ nhận biết thoáng qua, biết rằng đó là một khoảnh khắc tốt đẹp, và tâm chỉ hướng đến những gì tiếp theo, làm cho chúng được tiếp tục. Đó chính là tham (lobha). Trong thực hành vipassanā, hãy quan sát luôn cả những khoảnh khắc mà ta cho là “tốt” lẫn “xấu” với cùng sự nhận biết tổng thể, thông qua tất cả các giác quan tại thời điểm ấy. Hãy quan sát những phản ứng của tâm trước những gì đang xảy ra và trạch pháp, đặt câu hỏi: “Tại sao điều này xảy ra? Tại sao?” Chúng ta cần nhận biết và hiểu rõ mối quan hệ nhân quả của những gì đang diễn ra một cách tổng thể. Từ đó, chúng ta sẽ thấy được ý nghĩa sâu sắc và tìm thấy sự an lạc lâu dài trong cuộc sống; đó chính là trí tuệ đang vận hành. Nếu có thể duy trì sự nhận biết liên tục và thẩm sát tâm theo cách này, chúng ta sẽ có được lực kéo và đà quán tính để tiến xa hơn trong thực hành. Nhưng nếu không duy trì sự nhận biết, chúng ta sẽ không khác gì việc giậm chân tại chỗ: không có lực kéo, không có đà, và do đó, cũng không có trí tuệ.
Trong năm đầu tiên làm việc tại cửa hàng của cha, tôi cảm thấy ngày càng không hạnh phúc; những tháng ngày vui vẻ của tôi đã kết thúc. Tôi hiếm khi gặp bạn bè vì họ quá bận rộn với các hoạt động trong trường. Tôi bắt đầu tìm đến các hoạt động không lành mạnh để giải tỏa sự thất vọng và tìm kiếm niềm vui. Chất gây nghiện, tình dục và các hành vi lệch lạc bấy giờ là bạn đồng hành với tôi. Cùng với việc lạm dụng comethazine và đôi khi một chút thuốc phiện, tôi càng sút cân vì ăn rất ít. Tôi trở nên dễ dàng lo lắng và cảm thấy rất khó khăn khi ở gần con người, đặc biệt những nơi như Theingyi Zay, lại càng là trở ngại. Tôi vẫn còn đang sống với gia đình, những người thường tránh xa tôi khi thấy tình trạng của tôi; họ cũng biết lý do vì sao tôi trở nên như vậy. Cuộc sống diễn ra không như cách tôi mong muốn. Cha ngày càng trở nên thất vọng và tức giận với tôi, khi thấy tôi sụt cân và cách tôi hành xử, ông gửi tôi đến ở với Sayadawgyi để nhờ Ngài chỉnh đốn. Lần đó, tôi đã xuất gia và ở thiền viện gần hai năm.
Trong những năm ấy, khi còn trong những khóa thiền, tâm của tôi trở nên tốt hơn, ổn định hơn, nhưng khi trở về nhà, các vấn đề lại ngay lập tức quay trở lại. Nhiều thiền sinh thực hành cũng gặp tình trạng giống như vậy. Nếu thiếu trí tuệ, si sẽ ngay lập tức có mặt và nói rằng: “Khóa thiền kết thúc rồi, hành thiền xong rồi, giờ thì chơi bời thôi.” Các phiền não nhìn thiền sinh và nói: “Được rồi, bạn muốn thực hành bao lâu: một tháng, hai tháng hay tám tháng? Tốt thôi, bạn sẽ được ở yên trong thời gian đó, rồi sau đó sẽ đến lượt ta”. Và đúng là đến lượt của phiền não. Bản chất của thiền là phải thực hành mọi lúc – không bao giờ ngừng nghỉ! Giới (sīla), định (samādhi), tuệ (paññā) – cần phải có sự kiên trì thực hành để phát triển các yếu tố này. Đức Phật luôn dặn dò các học trò đừng phóng dật, phải luôn có pháp (dhamma) trong tâm. Ngài không căn dặn về thời điểm, mà Ngài dặn là “có pháp trong tâm” và “đừng phóng dật”, nghĩa là mọi lúc.
Chúng ta chỉ có thể bắt đầu thực hành khi tâm có một độ tĩnh nhất định, đây chính là một lỗ hổng trong bức tường dày của si mà thông qua đó việc trạch pháp có thể diễn ra. Đức Phật hiểu rất rõ sự nguy hại của si, bởi khi trí tuệ không hiện diện thì si lập tức xuất hiện. Khi si mở cánh cổng là lúc tất cả phiền não sẽ nối bước theo vào. Khi rời khóa thiền, điều cực kỳ quan trọng là phải tiếp tục thực hành. Tôi vẫn nhớ lời thầy dạy trong những năm đầu, mỗi khi tôi rời thiền viện, rằng: “Con sẽ hạnh phúc hơn nếu con nhận biết nhiều hơn.” Lúc đó, tôi chưa thực sự hiểu ý nghĩa trong câu nói của thầy, nhưng khi tâm trưởng thành hơn và tôi hiểu nhiều hơn về thái độ chân chánh thì tôi có thể nhận ra sự nhận biết và hạnh phúc có mối liên hệ với nhau như thế nào. Sự hiểu biết này có thể sử dụng trong bất kỳ tình huống nào, cho dù đó là trải nghiệm đau khổ về thân thể hay tinh thần. Giờ đây, nó trở thành thước đo quý giá nhất mà tôi dùng để xem xét về sự thực hành của mình.
NGHIỆP/KAMMA (KUSALA, AKUSALA, CETANĀ)
Nghĩa đen theo từ điển Pali của nghiệp (kamma) mà chúng ta thường dùng đều nhằm chỉ đến “hành động”. Tuy nhiên, nếu xem như một hiện tượng tự nhiên mang tính tổng thể thì nghiệp bao gồm luôn cả những hành động thiện (kusala), lẫn bất thiện (akusala). Những hoạt động này xuất phát từ tâm sở (cetanā) hay ý định, đây là yếu tố quan trọng nhất hình thành nên kamma (chúng ta sẽ nói thêm về cetanā ở phần sau). Ý định khởi động một chuỗi hành động tự diễn ra cho tới khi đạt đến kết thúc tất yếu của nó. Chuỗi hành động này đôi khi đượcgọi là “tác động của hành động” (action influence), và kết quảđược biết đến là vipāka, hay kết quả của hành động, kết quả này trực tiếp phụ thuộc vào việc hành động ban đầu là thiện hay bất thiện.
Có vô số ví dụ để mô tả tiến trình này. Ví dụ đầu tiên, hãy thử tưởng tượng bạn có một đường ống nước dài, khoảng 100 mét chẳng hạn, và đường nước này kết nối với nguồn nước bẩn. Nếu đổi nước đầu nguồn sang nguồn nước suối tinh khiết thì chúng ta vẫn có 100 mét nước bẩn, trước khi có nước sạch. Nếu kết nối lại với nguồn nước bẩn thì chỉ trong thời gian ngắn, nước bẩn cũng sẽ chảy đến cuối ống. Mỗi hành động phải tự nó diễn ra trọn vẹn. Hành động kết nối đường ống chính là tâm sở tư (cetanā) – ý định. Nếu chúng ta ngồi yên với nhận biết và quan sát xung quanh, chúng ta sẽ thấy tiến trình này ở mọi nơi; đây chính là tự nhiên đang vận hành. Đây là quy luật của tự nhiên và không thể tránh khỏi. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể tránh được những hậu quả tiêu cực. Với nhận biết và trí tuệ, chúng ta có thể giữ được kết nối với nguồn nước sạch và không tạo thêm những nguyên nhân bất thiện. Các điều kiện có thể chấm dứt, nhưng chúng ta vẫn có thể bám chấp vào kết quả, vậy nên, chúng ta phải hiểu đâu là nguyên nhân thì mới giải quyết được kết quả. Chỉ có Phật và các vị A-la-hán, những người đã vượt qua sinh tử luân hồi mới không sinh khởi thêm những nghiệp mới. Tuy nhiên, họ vẫn phải trải qua những kết quả do những điều kiện đã khởi sinh trong quá khứ, cho đến khi chúng hoàn toàn kết thúc.
Nghiệp không phải là phần thưởng hay hình phạt được ban xuống bởi quyền lực nào đó cao hơn; cũng không phải là con dấu cố định cho số phận của chúng ta; cũng không phải là định mệnh. Đó là hành động của mình tác động lên chính mình. Nghiệp không phải là một câu chuyện đã được viết từ đầu đến cuối. Câu chuyện này chỉ mới được kể đến thời điểm hiện tại. Hiểu được điều này, có nghĩa là chúng ta có khả năng chuyển hướng hay ngắt quãng dòng chảy của nghiệp, giống như có thể đổi từ nguồn nước ô nhiễm sang nguồn nước trong lành. Giả sử như, một người cả đời phát triển thói quen tức giận và dễ nổi giận, thì khi người đó thực hành nhận biết, họ sẽ sớm nhận ra lợi ích của thực hành và trong giây phút hiện tại, họ có thể có lựa chọn là tiếp tục giận hoặc cố gắng nhận biết và phát triển trí tuệ. Đó chính là tự do ý chí. Nếu người đó chọn phớt lờ cơn giận và không có mong muốn tìm hiểu về nó, si sẽ hiện diện và các nhân duyên sẽ được tiếp tục. Chính trí tuệ mới mang lại sự tự do để lựa chọn. Chúng ta chẳng thể nào hình dung hết ra được về sự bao la của nghiệp mà mình đã tích lũy và có khả năng trổ quả trong từng khoảnh khắc. Tâm giống như một hệ thống nút bấm, dễ dàng được kích hoạt bởi các điều kiện bên ngoài và bên trong. Nhân tạo quả, và nhân cũng bao hàm cả quả. Nghiệp là một chủ đề rất thú vị mà chúng ta có thể đào sâu để khám phá. Chẳng hạn khi chúng ta nhìn xung quanh, chúng ta đều thấy sự bất bình đẳng tồn tại trong thế gian này, đồng thời cũng có nhiều câu hỏi tại sao lại diễn ra như vậy. Chúng ta có thể đi vào những lý thuyết về tiền kiếp, và điều này cũng sẽ sinh ra thêm những câu hỏi khác. Có thể quy tất cả điều này cho nghiệp không? Tôi không có quyền để bình luận. Đó là việc của bạn: hãy thực hành và rồi, chính khi hiểu biết xuất hiện, bạn sẽ tự thấy ra. Có rất nhiều mô thức nhìn nhận về nghiệp và dễ làm chúng ta lạc lối trong đó. Vậy nên, nếu muốn suy ngẫm sâu về chủ đề này, chúng ta cần có thông tin chân chánh, chính thông tin chân chánh mới dẫn đến tư duy chân chánh. Nhờ tư duy chân chánh cùng với thực hành nhận biết, trí tuệ được xây dựng, bạn sẽ sớm nhận ra đâu là thiện, đâu là bất thiện, bảo toàn sự an lạc, và mang điều đó vào cuộc sống của mình. Khi có tuệ giác, chúng ta sẽ bắt đầu thấy được bức tranh toàn cảnh. Từ đó, chúng ta có thể tự kiểm chứng được quy luật tự nhiên của nghiệp, câu trả lời sẽ ở đó.
Khi nói về ý định, hay tâm sở tư (cetanā), chúng ta đang nói về một quá trình mang tính điều kiện, nhân và quả. Chúng ta cần nhớ rằng đó là dòng chảy của tâm, tâm này nối tiếp tâm kia, mỗi tâm lại mang theo “dấu ấn” từ quá khứ; đây chính là chuỗi nhân quả. Các điều kiện trong một tâm sẽ mang lại ảnh hưởng cho tâm kế tiếp, tương tự như khi chạy tiếp sức, người này chuyền gậy cho người khác. Tâm ở khoảnh khắc mới, sẽ lấy ra và thêm điều kiện từ tâm đã có trước đó. Tâm mới có thể gia tăng hoặc làm giảm đi phẩm chất của khoảnh khắc trước, rồi diệt đi, và để lại ảnh hưởng cho tâm tiếp theo. Tâm khởi sinh khi đủ điều kiện. Vậy nên, trong khoảnh khắc hiện tại, tâm hiện tại có khả năng đóng góp vào những điều kiện trước khi mất đi. Tất cả mọi thứ đều do nhân duyên mà thành, điều này có nghĩa là dòng chảy nhân quả liên tục vận hành: điều này được gọi là trở thành – becoming (hiện hữu), hoặc samara (luân hồi). Trong khoảnh khắc hiện tại, nếu có trí tuệ thì sẽ có lựa chọn hoặc tự do ý chí, lựa chọn đó là một lựa chọn khôn ngoan. Bản chất của tác ý là trung tính, chỉ khi tác ý đi kèm và bị điều khiển bởi tâm thiện hoặc bất thiện thì tác ý đó sẽ quyết định kết quả của những sự kiện trong tương lai. Trí tuệ cũng có thể chọn, nó chọn điều đáng tin và duy trì sự hoạt động thay vì suy yếu đi.
Bất kỳ điều gì thiện hay bất thiện đều bắt nguồn từ tâm. Tại sao tâm lại có những phẩm chất thiện hay bất thiện? Những phẩm chất này khởi sinh do cách chúng ta phản ứng với đối tượng. Mọi điều thiện đều bắt đầu từ thái độ chân chánh, tâm thế đúng, và như lý tác ý (yoniso manasikāra). Ngược lại, mọi điều bất thiện đều bắt đầu từ thái độ sai, tâm thế sai, hoặc phi như lý tác ý (ayoniso manasikāra). Hãy luôn cố gắng sống với những hành động thiện lành, lời nói thiện xảo, và các phẩm chất thiện lành trong tâm. Làm mọi việc một cách thiện xảo; thực hành bố thí (dāna), giữ giới (sīla), phát triển sự vững vàng của tâm (samādhi), và thực hành thiền vipassanā (bhāvanā). Trong tất cả những hành động này, bhāvanā là hành động cao quý nhất, thiện lành nhất. Tôi không thể nhấn mạnh đủ về tầm quan trọng của việc hiểu rõ những phẩm chất tâm: kusala (thiện) và akusala (bất thiện).
Một lần, khi đang đi bộ từ chợ về nhà, tôi quyết định thử “chơi đùa” với tham. Thời tiết hôm đó cực kỳ nóng, tôi cảm thấy khát. Khi đi qua khu phố người Hoa, ngang qua các cửa hàng, tôi thấy nhiều loại nước giải khát mát lạnh được bày bán như Coca, Fanta, Sprite, các loại nước đóng chai. Tôi nghĩ: “nếu mình khát thì tất cả những gì mình cần chỉ là nước.” Nhưng lobha (tham) lại nói: “Trong túi có tiền đấy, ghé vào mua một lon soda đi.” Trí tuệ thì bảo: “Cứ đợi về nhà rồi uống nước cũng được.” Cuộc đối thoại này cứ lặp đi lặp lại mỗi khi đi ngang qua một cửa hàng. Cuối cùng, khi về đến nhà, tham trong tích tắc có mặt, khiến tôi đi thẳng đến tủ lạnh để tìm thức uống lạnh. Nhưng tôi bỗng ngừng lại và nghĩ ra: “Đây chỉ là cảm giác thôi mà, tất cả những gì mình cần là nước; đâu nhất thiết phải là nước lạnh trong tủ lạnh.” Tôi rót một ly nước máy và uống – cảm giác khát biến mất.
Tham sẽ luôn hiện diện, thúc đẩy bạn tìm kiếm trải nghiệm khác tốt hơn (như trong trường hợp trên là cảm giác sảng khoái từ thức uống lạnh, hay vị của nước ngọt, hoặc đơn giản là được thêm cảm giác lạnh). Khi trí tuệ đi cùng với sự nhận biết, mỗi quyết định đưa ra được tiếp thêm sức mạnh. Khát chỉ là khát, không có gì hơn; đó là tự nhiên đang làm nhiệm vụ của nó, và điều này cho chúng ta biết cơ thể cần gì. Nói vậy không có nghĩa là trải nghiệm những cảm giác dễ chịu là sai, điều này muốn nói rằng, chúng ta thường đưa ra quyết định mà không có nhận biết, điều này sẽ tạo cơ hội cho phiền não xâm nhập. Đôi khi, chúng ta lưỡng lự, không chắc mình nên làm gì bởi vì có nhiều kỳ vọng ở đó. Có thích hoặc không thích ở trong tâm và chúng ta đang mong đợi một kết quả nào đó. Chúng ta luôn cần tự hỏi đây là ý muốn thiện hay bất thiện? Cần thiết hay không cần thiết? Việc này là để cho trí tuệ được hoạt động.
Trong khoảng thời gian hai năm ở thiền viện, mối quan hệ giữa tôi và Sayadawgyi đã phát triển đến mức tôi có thể kể với thầy mọi chuyện trong cuộc sống của mình, và thầy rất vui khi tôi làm điều đó. Thầy là một người ít nói, và thầy thường bảo tôi rằng: “Thầy là một cái trống, con cần đánh vào trống thì mới nhận được phản hồi.” Nói cách khác, thầy muốn tôi thực sự cởi mở với thầy, kể cho thầy mọi điều, cả tốt lẫn xấu; nếu không làm vậy, thầy sẽ không thể biết được nên hướng dẫn tôi theo cách nào. Mỗi khi đến thiền viện, tôi đều cảm nhận được tất cả những vấn đề và rắc rối của mình dường như tan biến, Sayadawgyi luôn khiến tôi có cảm giác rằng thầy quan tâm đến sự bình an của tôi và tôi hoàn toàn an toàn khi ở bên cạnh sự chăm sóc của thầy. Thầy nói rằng tôi có thể đến gặp thầy bất kỳ lúc nào, dù là ngày hay đêm, nếu tôi có vấn đề cần thảo luận. Đôi khi, tôi lẻn vào phòng của thầy khi thầy đang ngủ và ngồi thiền ở đó. Đây là một đặc ân rất đặc biệt mà tôi nghĩ rằng không ai có được. Trong những năm đầu ấy, việc được gần gũi với Sayadawgyi và thực hành dưới sự hướng dẫn của thầy là nơi nương tựa thực sự duy nhất của tôi trước những hỗn loạn đang chi phối tâm mình. Mỗi khi tôi rời thiền viện, thầy luôn dặn: “Hãy tiếp tục thực hành.” Nhưng tôi chưa từng làm theo. Tôi chỉ trở lại cuộc sống như trước khóa thiền và quay về với những thói quen cũ.
NƯƠNG TỰA: PHẬT (BUDDHA), PHÁP (DHAMMA),TĂNG (SANGHA)
Khi chúng ta bị dồn vào đường cùng và thế giới xung quanh dường như đang sụp đổ, ta sẽ dựa vào đâu? Ta phải làm gì? Đây là tình huống “tiến thoái lưỡng nan” mà tất cả chúng ta đều phải đối mặt ở một giai đoạn nào đó trong đời. Chúng ta có thể tìm đến bạn bè và người thân để nhận được hỗ trợ, điều này có thể mang lại sự giúp đỡ thực sự, nhưng cuối cùng, chúng ta phải tự mình tìm ra câu trả lời. Giữ tâm ổn định và bình tĩnh đủ để gom nhặt kiến thức và hiểu biết sẽ giúp chúng ta nhìn nhận những gì đang diễn ra trong cuộc sống của mình một cách điềm tĩnh và khách quan, đòi hỏi sự can đảm lớn lao, đó chính là thử thách thực sự với ý chí của chúng ta. Câu trả lời cho mọi vấn đề của chúng ta nằm trong chính tâm mình. Chúng ta cần tìm một điểm tựa mà không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì để mang lại hạnh phúc.
Nương tựa vào Phật nghĩa là nương tựa vào khả năng đi đến giác ngộ. Chính việc nhận biết trong từng khoảnh khắc cho chúng ta sự tiếp cận trực tiếp đến khả năng thức tỉnh và mang chúng ta đến với sự hiểu ra, về mọi thứ như nó đang là; những gì không phải như là đều phụ thuộc vào điều kiện và có khả năng mang lại khổ đau. Chúng ta được nhắc nhở về Đức Phật lịch sử và những lời dạy của Ngài khi bước vào thiền đường để ngồi thiền hoặc lắng nghe các thầy giảng pháp. Các thầy, với màu sắc riêng của mình, truyền tải những lời dạy từ Đức Phật. Tất cả chúng ta đều có thể nương tựa và tìm được sự xoa dịu từ những điều này, chính những điều này sẽ cho chúng ta một không gian để từ đó trí tuệ khởi sinh và giúp chúng ta có cảm hứng để tiếp tục thực hành. Nương tựa vào pháp là nương tựa vào chính bản chất của thực tại, vốn hiện hữu trong của hình hài tạm bợ của con người. Thân này là thực tại và cũng là phương tiện giúp chúng ta mở lòng và thức tỉnh. Chúng ta cần tìm thấy sự tin tưởng và lòng tin để thấy ra điều này, không chỉ tin vào lời dạy của Phật thôi mà còn tin vào sự thực hành của chính mình. Chúng ta xây dựng niềm tin vào nhận biết, nơi mà chúng ta có thể thấy được pháp (dhamma) hiển lộ trong từng khoảnh khắc của nhận thức. Dhamma chính là thực tại của chúng ta, và chúng ta có thể đặt niềm tin vào thế hệ thiền sinh đi trước, những người chia sẻ kinh nghiệm và pháp đến chúng ta. Chúng ta có thể nhìn xung quanh và tìm sự dễ chịu từ tự nhiên, đồng thời mang sự nhận biết, học hỏi từ chính sự phụ thuộc của mình với thiên nhiên để duy trì được sự sống. Điều quan trọng hơn hết là nương tựa vào khả năng thanh lọc tâm ý và giác ngộ pháp, và từ bản chất vô ngã của chính tâm này.
Tại trung tâm thiền này, chúng tôi không đưa ra quá nhiều quy tắc và nội quy, vì chúng tôi đặt niềm tin vào thiền sinh, mỗi người cần dùng chính sự xem xét của mình để giữ gìn bình an và hòa hợp trong cộng đồng. Hầu như vào sáng sớm hoặc chiều tối, bạn có thể bắt gặp các thiền sinh đi dạo cùng nhau và trò chuyện. Đây không hẳn là những cuộc trò chuyện vô nghĩa. Họ chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm pháp, hỗ trợ lẫn nhau. Thiền sinh sử dụng khoảng thời gian này để kết nối trong sự nhận biếtvà lắng nghe những gì diễn ra trong sự thực hành của người kia. Họ có sự hoan hỷ trong pháp, hòa mình trong sự an toàn và tin tưởng với cộng đồng. Khi có sự tương tác với thiền sinh khác,đó là cơ hội để quan sát tâm mình và nhận biết những gì hiện lên trên bề mặt ý thức. Sự tương tác với một bạn đạo theo cách này mang lại những giá trị to lớn trong việc mở rộng hiểu biết và củng cố trí tuệ. Những tương tác giữa thiền sinh khi không có kỳ vọng sẽ mang lại sự trọn vẹn sâu sắc. Một số thiền sinh khi đến với trung tâm thiền nói rằng, “Tôi sẽ không giao tiếp với ai cả. Tôi chỉ muốn dồn hết sức vào việc thực hành của mình.”Thái độ của một số thiền sinh đã thay đổi sau vài ngày khi họ nhận ra được giá trị của việc cho và nhận từ những thiền sinh khác, còn đối với một số khác thì việc một mình lại là sự hỗ trợ mà họ cần. Chúng ta có thể tìm thấy được niềm an ủi lớn lao từ sự hỗ trợ và tin tưởng của cộng đồng thiền.

