NON SÔNG NGHÌN THUỞ VỮNG ÂU VÀNG

Trích: Trần Nhân Tông: Đời – Đạo không hai/ Nguyễn Thế Đăng; NXB Tôn giáo; Công ty sách Thiện Tri Thức, 2024

01/07/2025
51 lượt xem

Người Việt Nam chúng ta, có lẽ không ai không biết đến tên Đức vua – Thiền sư Trần Nhân Tông, người đã hai lần trực tiếp đánh đuổi quân Nguyên Mông xâm lược, và cũng là người trong gần mười năm cuối đời đã xuất gia để làm Sơ tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

 

Điều quan trọng là không phải ngài sống hai giai đoạn đời và đạo tách biệt nhau: sống ở đời, làm việc đời (làm vua) và cho đến mười năm cuối thì xuất gia, tu đạo. Ngài đã học và hành đạo ngay khi còn niên thiếu, vì với ông nội là một vị vua – thiền sư tức vua Trần Thái Tông, và với người cha cũng là một vị vua – thiền sư tức vua Trần Thánh Tông, thì quan tâm tới con đường tâm linh khi còn trẻ là điều bình thường.

 

Cho đến khi đã xuất gia (1298), theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép, “Năm 1301, Thượng hoàng vân du các nơi, sang Chiêm Thành”. Chỉ một việc sang Chiêm Thành thôi, ngài đã là người có công trong việc mở nước về phương Nam, bằng biện pháp hòa bình. Xuất gia mà vẫn làm công việc ngoại giao, văn hóa của một Thượng hoàng, cho thấy đạo và đời luôn luôn gắn bó với nhau vậy.

 

Cuốn sách này có đầu đề là “đời – đạo không hai”. Từ “không hai” là một từ của Phật giáo, “bất nhị”. Đời thay đổi theo dòng thời gian, như lịch sử không bao giờ lập lại. Đạo thì không thay đổi, như Bát nhã Tâm kinh nói, “không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm”. Cho nên sống đạo Phật là sống “bất biến tùy duyên”. Sống bất biến là sống đạo, đồng thời sống tùy duyên là sống đời, cả hai trong một đời sống của một con người.

 

Ngài Trần Nhân Tông là một tấm gương, sống bất biến tùy duyên, cho không những dân tộc ta mà còn cho thế giới. Sự tùy duyên của ngài, chỉ nói về việc chiến tranh, thì đã đạt đến cấp độ cao nhất trong một hoàn cảnh ngặt nghèo nhất: cả ba lần kinh đô Thăng Long đều bị đốt phá tan hoang. Sự bất biến của ngài, đó chính là tâm trí huệ rỗng rang không cố chấp (mà ngài gọi là “thị phi tiếng lặng”) và từ bi “thương khắp” của ngài. Sau chiến tranh, về thấy hai con ngựa đá lấm bùn trước hoàng thành đã cháy, ngài thốt lên hai câu:

 

Xã tắc hai phen phiền ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

 

Hai câu thơ trên không chỉ nói lên niềm tin vào sự vững vàng muôn thuở của non sông đất nước, mà còn là niềm tin vào phần tâm hồn, vào tinh thần của người Việt. Phần tinh thần ấy là điều mà ngài suốt đời phụng sự, đó là Phật giáo tại đất nước Việt Nam.

—–♥♥♥—–

YÊN TỬ