VUA TRẦN NHÂN TÔNG Ở TRIỀU ĐÌNH, HỌC ĐẠO VỚI TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

Cư Trần Lạc Đạo Phú/ Trần Nhân Tông; Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng chú giảng; NXB Hà Nội, Công ty sách Thái Hà, 2019

01/03/2025
34 lượt xem

HỘI THỨ BA

Nếu mà cốc (biết),

Tội ắt đà không,

Phép học lại thông.

Gìn tính sáng,

Mựa (nào có) lạc tà đạo.

Sửa mình học cho phải chính tông.

 Biết tánh Không thì hết tội. Tánh Không là nền tảng cho các pháp môn, nên biết nền tảng tánh Không thì các pháp học, cách pháp tu trở nên rõ ràng thông suốt. Các pháp tu được lập ra trên nền tảng tánh Không để đưa hành giả trở lại nền tảng tánh Không. Tánh Không là sự khởi đầu và kết thúc của một pháp môn.

Hơn nữa, tánh Không là nền tảng cho mọi biểu hiện của đời sống, nên muốn giải quyết hiện tượng nào, hãy đưa nó trở về bản tánh của nó là tánh Không.

Giữ gìn, hộ trì tính sáng thì không lạc vào tà đạo. Tu (sửa) học là tu học tánh Không và tính sáng, đó mới là chính tông.

Thực tại nền tảng, theo Đại Toàn Thiện: tinh túy là tánh Không, bản tánh là tính sáng, và biểu hiện là năng lực. Ở đây chúng ta thấy ngài nói đến chính tông của Thiền là tánh Không và tính sáng.

Chỉn Bụt là lòng,

Hãy xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ.

“Chỉ Bụt là lòng” là câu nói của Thiền sư Mã Tổ (thế kỷ thứ 8). Các bài kệ truyền pháp của Guru Padmasambhava (Đức Liên Hoa Sinh) cho các đệ tử (25 vị) cũng thường nói “Tâm ông chính là Phật”. Chẳng hạn:

Hãy nghe đây, Dorje Dudjom họ Nanam!

Cái có tên là ‘tâm quang minh của giác ngộ’.

Là vốn sẵn bên trong, bổn nguyên tự hữu và không tâm điểm cũng chẳng chu vi.

Chớ sửa chữa, chỉnh trang nó, mà ở ngay trong trạng thái vốn tự ngộ và trong sáng tự nhiên.

Không thay đổi, không làm biến chất, mà an trụ, giải thoát trong tánh bổn nhiên!

Ở yên như thế, tâm con thoát khỏi động niệm.

Chính tâm này là Phật!

“Chỉ tâm là Phật” là Nền tảng, Con đường và Quả của Đại Toàn Thiện. Nền tảng là cái có sẵn trong mỗi chúng ta. Con đường là sự khai mở, khai triển Nền tảng này. Quả là Nền tảng đã khai triển trọn vẹn.

“Chỉ tâm này là Phật”, với Thiền là một niệm tương ưng, thấy được thực tại này. Sau đó niệm niệm tương ưng, hộ trì, bảo nhậm nó cho đến viên mãn.

Với Đại Toàn Thiện, hành giả phải thấy cái nền tảng “Chỉ tâm này là Phật”, gọi là cái Thấy. Sau đó con đường là Thiền định về nó, không lìa khỏi cái thấy nền tảng này. Và Hạnh là đưa cái thấy nền tảng ấy vào mọi hoạt động của đời sống, khiến mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp đều thấm nhuần, tràn đầy cái thấy thực tại này.

Vì tâm bao trùm tất cả và là tất cả, cho nên khi “chỉ tâm là Phật” thì Phật cũng bao trùm tất cả và là tất cả.

Vong tài đối sắc

Ắt tìm cho phải thói Bàng công.

Sau khi ngộ cư sĩ Bàng Uẩn đem hết đồ đạc trong nhà thả hết xuống sông. Nhắc tới Bàng Uẩn khi đã ngộ ra tánh Không là nói đến sự xả bỏ tiền tài, danh vọng và sắc đẹp.

Tánh Không là sự xả bỏ tối hậu, sự xả bỏ tất cả sanh tử. Mặc dù sự vật vẫn có đó, nhưng với người chứng ngộ tánh Không thì có cũng như không, không có gì để bám luyến.

Áng tư tài tính sáng chẳng tham,

Há vì ở Cánh Diều Yên Tử.

Thiền sư Trần Nhân Tông nhắc nhiều lần “tính sáng” trong Cư Trần Lạc Đạo Phú. Đây là lần thứ năm.

Tính (tánh) sáng nơi tâm làm cho tiền tài, sản nghiệp trở thành vô nghĩa. Tính sáng ấy vốn ở nơi mình, chứ chẳng phải vì ở Cánh Diều của núi Yên Tử.

Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển,

Lọ chỉ ngồi am Sạn non Đông.

Một khi đã thấu đạt tánh Không của tâm, thì đây mới thực sự là “răn thanh sắc niệm dừng chẳng chuyển” vì khi ấy thanh sắc là tánh Không, không còn ảnh hưởng gì đến hành giả. Tánh Không ấy ở đâu cũng hiện hữu, trong khi thức, trong khi ngủ, trong thiền định, sau khi thân xác này chết, chứ chẳng phải nhất thiết ngồi ở am Sạn non Đông ở núi Yên Tử.

Trần tục mà nên,

Phúc ấy càng yêu hết tấc. (mức)

Sơn lâm chẳng cốc (mà chẳng biết),

Họa kia thực cả đồ uổng công.

Trong đời ‘trần tục’ mà thấy và sống được tánh Không là bản tánh của trần tục, hạnh phúc ấy càng yêu quý hết mực. Còn ở núi rừng mà chẳng biết bản tánh, nền tảng của mọi hiện hữu là tánh Không thì đó là tai họa lớn, uổng phí cả một đời.

Nguyền mong thân cận minh sư,

Quả Bồ đề một đêm mà chín.

Phúc gặp tình cờ tri thức,

Hoa Ưu đàm mấy kiếp đơm bông.

Nguyện mong gần gũi minh sư, vị ấy chỉ cho những thực hành sơ bộ nhắm vào nền tảng tánh Không. Khi tâm đã chuẩn bị đầy đủ, vị ấy chỉ thẳng, giới thiệu, trực tiếp đưa đệ tử vào tánh Không. Điều này Thiền gọi là “tâm truyền tâm”. Mật thừa bây giờ gọi là quán đảnh: đưa đệ tử vào cái thấy thực tại.

Một minh sư như thế được gọi là thiện tri thức, có một mức độ nền tảng khá đủ, nghĩa là có chứng ngộ tánh Không, quang minh và năng lực để trực tiếp trao truyền. Nhờ vị thiện tri thức ấy mà hoa Ưu đàm Phật tánh từ mấy kiếp nay bỗng nở hoa.

Hội thứ ba nói “tâm mình chính là Phật”. Thấy biết được bản tâm ấy, an trụ trong đó, đây là con đường tu. Con đường ấy có mặt ở khắp thế gian, chứ chẳng phải có riêng một chỗ nào. Nếu gặp và thân cận được một vị thầy đã thấy biết tâm tánh, thì đó là phước đức lớn. Với sự chỉ bày khai thị của thầy thì đóa hoa Phật tánh sẽ bừng nở, “hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông” là vậy.

 

Chú thích

* Tựa bài viết do BBT Cùng Sống An Vui đặt