THẾ GIỚI NƠI TA ĐANG SỐNG: THÔNG TIN NGÀY CÀNG NHIỀU LÊN NHƯNG Ý NGHĨA NGÀY CÀNG ÍT ĐI
Trích: XÃ HỘI HỌC – Khái Lược Những Tư Tưởng Lớn/ Nguyễn Minh dịch,NXB Dân Trí; 2023.
Ảnh: nguồn Internet
—–

—–
Vào cuối thế kỷ 20, nhà xã hội học người Pháp Jean Baudrillard tuyên bố “năm 2000, theo một cách nào đó, sẽ không đến”. Baudrillard nói ngày cánh chung – hồi kết của thế giới mà ta biết – đã xảy ra rồi, nên khi bước vào thế kỷ 21, con người “đã vượt qua hồi kết”. Ông tin như vậy là bởi đã có một tội lỗi hoàn hảo xảy ra – “cuộc hạ sát sự thật”.
Theo Baudrillard, cách duy nhất để ta “biết” năm 2000 cũng là cái cách ta đang dùng để biết mọi thứ: thông qua những dòng hình ảnh bất tận, được sản xuất cho con người tiêu thụ, từ báo chí, truyền hình, phim ảnh, quảng cáo và trang mạng. Theo Baudrillard, thực tại không phải những thứ xảy ra trong thế giới vật chất (“thực tại” đó đã chết), mà là những gì có thể mô phỏng, sao chép. Cái thật bây giờ là “cái đã được sao chép”. Trong thế kỷ 20, sự diễn tả về thực tế bắt đầu đi trước thực tế, thay vì ngược lại.
Để lý giải luận điểm của mình, Baudrillard dẫn một truyện ngắn của nhà văn, nhà thơ Argentina: Jorge Luis Borges. Truyện kể về Các nhà hoạ đồ vẽ nên một tấm bản đồ cực lớn của một đế quốc. Tỷ lệ bản đồ đó là 1:1, nên lãnh thổ lớn như thế nào thì bản vẽ lớn như thế ấy, bao phủ toàn bộ đất đai đế quốc. Khi đế quốc suy tàn, bản đồ dần dần sờn nát, cuối cùng bị hủy hoại, chỉ sót lại vài mảnh vụn.
Trong ngụ ngôn nói trên, ta dễ dàng nhận diện nguyên bản và bản sao, vì khác biệt giữa chúng là rõ ràng. Baudrillard nói, vào thời Phục hưng, tình hình cũng giống như vậy: giữa sự vật và hình ảnh của nó có mối liên hệ hiển nhiên. Hình ảnh là sự phản ánh của một thực tại sâu sắc; nhưng nó giống và khác thực tại ở chỗ nào, con người đều nhận ra được. Tuy nhiên, khi thời đại công nghiệp bắt đầu, liên hệ giữa sự vật và hình ảnh đại diện trở nên kém rõ ràng hơn hẳn, vì một vật thể nguyên bản, hay mô hình của nó, có thể được sao chép lại hàng trăm hàng ngàn lần.
Baudrillard nắm bắt được tư tưởng của các nhà Marxist thập niên 1960 khác, như lý thuyết gia Pháp Guy Debord, người kêu gọi lưu tâm đến sự biến chuyển trong tư duy văn hóa đi kèm với hiện tượng sản xuất hàng loạt. Debord ghi nhận trong thời kỳ lịch sử này, “toàn bộ cuộc sống xã hội… đều phô bày chính nó như… sự tích lũy các diễn cảnh”. Theo đó, cuộc sống đã cô đặc thành một tập hợp ảnh chụp: ảnh đám cưới gia đình, ảnh kỳ nghỉ ở Pháp, v.v. Con người ngày nay thích ghi lại hình ảnh, tức là thích xem hơn thích làm: thay cho sự kiện, hình ảnh đã chiếm giữ vai trò trung tâm (nỗi ám ảnh chụp “selfie” của thời hiện đại cho thấy việc này đã trở nên phổ biến ra sao).
Baudrillard chỉ ra rằng thông qua chủ nghĩa tư bản, hàng hóa cũng tách rời khỏi chính nó. Như lúa mì không đơn thuần là lúa mì, mà còn là mặt hàng đầu tư tốt, là ngũ cốc cho bữa sáng. Cái quyết định giá trị là “nước sơn”, không phải “gỗ”. Đây chính là khởi đầu của kỷ nguyên quảng cáo, khi bản chất thực tế bị thông điệp thương hiệu vượt mặt. Tóm lại, hình ảnh đã trở thành mọi thứ.
Baudrillard tiếp tục bám theo quỹ đạo của cái thế giới lạ kỳ bao gồm toàn hình ảnh và cảnh tượng này. Ông nói theo đà tiến bộ công nghệ, người ta nhận ra một điều hiển nhiên, đó là không cần thiết phải viện đến một sự vật hay mô hình có thật nào cả. Ngày xưa, hình ảnh được trừu tượng hóa từ thứ gì đó có thật; còn nay, nó được tạo ra từ hư không, không cần thiết phải liên hệ hay phản ánh bất cứ thứ gì trong thế giới vật chất. Loại hình ảnh ấy gọi là “vọng ảnh” (simulacrum).
Baudrillard khẳng định, chừng nào một hình ảnh hay một tập hợp hình ảnh có thể được sao chép, thì nó còn có thể tạo ra thực tại. Cái thật là “cái có thể sao chép được”. Một khi hình ảnh đã được sao chép và phổ biến rộng rãi (chẳng hạn trên tạp chí hoặc trang mạng), chúng sẽ làm nên một thực tại chung. Mọi người bàn luận về chúng, theo cái cách mà họ sẽ không thể làm được với cái thực tại vật chất lộn xộn phi cấu trúc. Ngoài việc đơn giản hóa thế giới, khiến nó trở nên dễ quản, hình ảnh còn tạo dựng một thực tại thú vị hơn và hoàn hảo về mọi phương diện so với thực tại ở quanh ta.
Vọng ảnh – hình ảnh không có nguyên mẫu thực tại – có thể tạo ra hiệu ứng thỏa mãn hơn nhiều so với hình ảnh phản ánh thực tại. Thí dụ, một nữ diễn viên có thể được “nâng cấp bằng kỹ thuật số” để tiến gần hơn tới hình ảnh lý tưởng về người đàn bà đẹp của một nền văn hóa. Tuy vậy, để nâng cấp, ta vẫn cần đến một thực tại nào đó. Vì lý do này, Baudrillard cho rằng “lãnh địa” của thực tại chưa biến mất hẳn – một số mảnh vụn hãy còn rơi rớt đâu đây. Có điều, nếu đã thích ngắm hình nâng cấp, thì ngắm hình ảnh hoàn toàn do kỹ thuật số tạo dựng, không hề dựa trên một “người thật” nào, lại chẳng thích hơn sao? Kỹ thuật số có thể dựng nên những con người và thế giới “hoàn hảo”; thậm chí tái tạo chúng ta dưới bất cứ hình thức hay bộ dạng trực tuyến nào, trong các thế giới ảo nơi ta được mời tương tác với những người thật/ảo khác.
Nhưng nguy hiểm nằm ngay tại đó. Thực tại kiến tạo được xây dựng nhằm tối đa hóa lạc thú, nên nó hấp dẫn hơn thực tế nhiều. Cái chúng ta đang xây chính là thiên đường không tưởng, bởi một khi đã có tự do kiến tạo thế giới, thì tội gì không kiến tạo một chốn không tưởng? Vấn đề là chốn không tưởng trong thế giới ảo của chúng ta cũng gần tương đương với cái chết: chúng ta không còn muốn thực sự trải nghiệm một điều gì, mà chỉ muốn trải nghiệm việc được nghe kể về trải nghiệm đó, theo một cách siêu chân thực, tức là thực hơn cả thực. Ví dụ, ta thích ngồi nơi rạp chiếu phim, thưởng thức trải nghiệm siêu chân thực về cuộc đoàn tụ gia đình, hơn là đi về với gia đình mình. Trên màn ảnh rạp, khung cảnh sao mà thật thế; nó ồn ã, đa sắc, toàn diện hơn hẳn đời thật. Cuộc sống chúng ta so với nó thì nhạt hẳn, có lẽ chỉ trừ cuộc sống ảo trên Facebook hoặc một nơi nào khác tương tự. Chúng ta chỉ ngồi và nhìn màn hình, chẳng động đậy gì.
Baudrillard nhận thấy thực tại của chúng ta đang bị chi phối bởi một lượng thông tin cực lớn đổ xô vào đời ta từ biết bao hình thức truyền thông. Lạ thay, cái thật đang biến mất, nhưng “không phải vì nó bị thiếu, mà vì dư thừa”. Thông tin thừa thãi đổ vào nhận thức con người, dẫn đến… chấm dứt thông tin. Đó là vì chúng ta bị ngập chìm trong sự phức tạp thái quá, nên đã tìm đến một giải pháp đơn giản được trao ngay tận tay. Vọng ảnh giúp chúng ta hiểu về thế giới, với cái giá phải trả là mất hết những ý nghĩa phức tạp. Ta nói thế giới ngày càng nông cạn là vậy.
Những vọng ảnh cấu thành thưc tại được kiến tạo để thỏa mãn tức thời khao khát của con người. Baudrillard nói thực tại ảo càng chiếm ưu thế thì lý tưởng và trí tưởng tượng của con người càng đi lùi. Chúng ta đơn giản chấp nhận những gì được trao, bởi vì điều đó dễ làm; giống như đi từ “Đức” tới “Pháp” trong Disney World thì dễ hơn đi ngoài đời thực. Ngày nay, sự vật và hệ thống chẳng cần dựa trên lý tính nữa, chúng chỉ cần hoạt động tốt, “vận hành được”. Siêu thực tại mà chúng ta đã tạo dựng là “sản phẩm từ sự tổng hợp lan tỏa của nhiều mô hình tổ hợp, trong một siêu không gian không có khí quyển”. Dường như ta chẳng nhận thấy rằng nếu không có khí quyển, thì chỉ người máy sống sót nổi.
Một số lý thuyết gia đã phê phản Baudrillard. Triết gia Hoa Kỳ Douglass Kellner chỉ trích ông đi lệch khỏi lối diễn dịch Marxist về văn hóa. Nhà địa lý học Marxist David Harvey cũng giữ lập trường tương tự, nói Baudrillard đã sai khi khẳng định không có thực tế đằng sau hình ảnh. Nhung nhiều lý thuyết gia khác, như cặp vợ chồng người Canada Arthur và Marilouise Kroker, đề cao ông vì đã tán dương văn hóa hậu hiện đại, và xem công trình của ông là kim chỉ nam quan trọng cảnh báo những hiểm họa văn hóa của thế kỷ 21. Như nhà sinh thái học truyền thông Kenneth Rufo ghi nhận, ở Baudrillard “đầy những thú vị, và ngay những cú vụt hụt của ông… cũng mạnh mẽ vô cùng”.
—–

—–
Kh.360 TCN Triết gia Hy Lạp Plato nói ông sẽ trục xuất “kẻ bắt chước” ra khỏi nước cộng hòa toàn hảo của mình.
Đầu thế kỷ 19: Cách mạng Công nghiệp bắt đầu tại châu Âu.
Năm 1884 Friedrich Nietzsche nói chúng ta không thể hướng về Chúa để tìm ý nghĩa trong đời nữa, bởi “Chúa đã chết”.
Tn.1970 Roland Barthes cho biết ký hiệu và biểu tượng có các chức năng ý thức hệ. Chúng được truyền đạt tới người đọc với một sự đơn giản “tự nhiên”.

