Ở ĐỜI VUI ĐẠO

Trích: Cư Trần Lạc Đạo Phú/ Trần Nhân Tông; Nguyễn Thế Đăng chú giảng. NXB Hà Nội, 2019.

01/10/2025
36 lượt xem

HỘI THỨ MƯỜI

 

Tượng chúng ấy:

Cốc một Chân Không,

Dùng đòi căn khí.

 

Phàm chúng ấy: Biết một Chân Không, thực hành theo (dùng đòi) căn khí riêng của mỗi người. Nền tảng là một Chân Không, chung cho cả thánh và phàm, cho cả tâm và cảnh, chủ thể và đối tượng, nhưng thực hành pháp môn nào là tùy theo căn cơ từng người. Điều quan trọng nhất là thực hành pháp môn nào, tùy theo căn cơ nào, cũng đều đưa vào một Chân Không. Một Chân Không vừa là Nền tảng, vừa là Con đường, vừa là Quả.

 

Chính ngay nơi căn khí này, thân tâm này là Nền tảng, Con đường và Quả.

 

Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông.

Há cơ Tổ nay còn thửa bí.

 

Vì lòng ta vướng chấp nên tánh Không, Ánh sáng và Năng lực vốn có nhưng không thông. Thông được thì ta và người khác, ta và vũ trụ đều thông nhau trong một tánh Không, một Ánh sáng, một Năng lực.

 

Cơ của Tổ là Thiền, đâu có chỗ nào mắc nghẽn (bí) hay bí mật (bí). Đó cũng là Tâm của Tổ, Tâm của Phật, tất cả chỉ Nhất Tâm. Thực hành là thấy được Tâm Phật, Tổ và hòa thành một với Tâm ấy.

 

Chúng Tiểu thừa cốc hay chưa đến,

Bụt xá ngăn Bảo sở Hóa thành.

Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên,

Ai ghẻ có sơn lâm thành thị.

 

Các vị Tiểu thừa sự hiểu biết chưa đến chỗ trọn vẹn của Phật, cho nên dừng lại ở Bảo sở Hóa thành (chữ trong kinh Pháp Hoa, để chỉ mới ở giữa con đường). Tánh Không của các vị Tiểu thừa là một tánh Không không có sanh tử, không có vũ trụ và chúng sanh. Đây là Niết bàn, một Niết bàn có nơi chốn là một mặt tánh Không. Gọi là một mặt tánh Không vì thiếu tánh Như (Kinh Đại Bát Nhã).

 

Tánh Không của các vị Thượng sĩ hay Bồ tát là Chân Không, một Chân Không Diệu Hữu, không là gì cả mà có tất cả. Diệu hữu vì có, nhưng là tánh Không. Chân Không vì không, nhưng là Diệu hữu. Tánh Không của Bồ tát gồm cả tánh Như, hay Chân Như. Niết bàn của Bồ tát là Vô trụ xứ Niết bàn, cũng tức là bản tánh của tâm, không trụ nơi sanh tử cũng không trụ ở Niết bàn.

 

“Ghẻ” là phân biệt, chia tách. Thực tại thì không chia tách sơn lâm (tượng trưng cho sự an tịnh của Niết bàn) với thành thị (tượng trưng cho sự ồn náo của sanh tử). Kinh Duy Ma Cật gọi là Bất Nhị, “Nhập Bất nhị pháp môn.”

 

Núi hoang rừng quạnh,

Ấy là nơi dật sĩ tiêu dao.

Chiền vắng am thanh,

Chỉn thực cảnh đạo nhân du hý.

 

Dật sĩ là người ở ẩn dật. Đạo nhân là người tu đạo.

 

Đặt trong ngữ cảnh không phân biệt, không chia rẽ giữa sơn lâm và thành thị, cả hai chỉ là tùy duyên mà sống nơi nào thì “núi hoang rừng quạnh, chùa vắng am thanh” ở đây không hẳn là một nơi chốn địa lý mà có ý nghĩa trong tâm nhiều hơn. Núi hoang rừng quạnh là một cái tâm vắng vẻ, trống trải, không xôn xao nhân ngã, không rộn ràng tham sân. Chùa vắng am thanh là một cái tâm như chùa vắng am thanh, nghĩa là một cái tâm vắng lặng, thanh tịnh, một vị, thông suốt không còn vướng chấp.

 

Tóm lại, chỉ có cái tâm không bị ngoại cảnh vướng chấp, một tâm “biết một Chân Không”, nên thấy tất cả mọi hiện tượng là Chân Không mới là tâm an vui, hạnh phúc, tự tại.

 

Ngựa cao tán cả,

Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang.

Gác ngọc lầu vàng,

Ngục tốt thiếu chi người yêu quý.

 

Những người sang giàu, quyền thế ngựa cao lọng lớn, nhưng nghênh ngang không để ý đến nhân quả thì khi chết vì quả báo xấu phải chịu tội, bị Diêm vương xét xử phạt tội.

 

Người ở gác ngọc lâu vàng, quyền quý sang trọng mà sống không chánh nghiệp cũng phải tù tội ở đây và cả dưới địa ngục.

 

Giàu sang nào cho bằng người thấy Tánh, vì thấy tất cả là mình.

 

Chuộng công danh,

Lồng nhân ngã,

Thực ấy phàm ngu.

Say đạo đức,

Dời thân tâm,

Định nên thánh trí.

 

Ham chuộng công danh, chạy theo thế giới vật chất, lồng nhân ngã vào đời sống của mình, đó là một cuộc chiến đấu do mình tự đặt ra cho đến khi chết, ấy là kẻ phàm ngu. Lấy hạnh phúc nhỏ nhoi và vô thường này làm tất cả mục đích cho cuộc sống mình ấy là ngu dại, vì khi chết, ra đi chẳng mang được gì theo ngoài mớ nghiệp mình đã tạo.

 

Say đạo đức là say mê con đường giải thoát và giác ngộ, say mê con đường Bồ tát hạnh tự độ, độ người. Muốn thế phải chuyển hóa (dời) thân tâm, thì quyết định tựu thành thánh trí, sống trong bốn đức Thường Lạc Ngã Tịnh, cho mình và cho người.

 

Mày ngang mũi dọc,

Tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau.

Mặt thánh lòng phàm,

Thực cách nhẫn (đến) vàn vàn thiên lý.

 

Hai câu này chúng ta nên đối chiếu với hai câu của Thượng sĩ Tuệ Trung, thầy của ngài Trần Nhân Tông, để hiểu đúng hơn. Thượng sĩ Tuệ Trung nói trong bài Phàm thánh bất dị:

Mày ngang mũi dọc cũng như nhau,

Phật cùng chúng sanh cùng một mặt.

 

Hai câu trên ý nói Phật và chúng sanh cùng một khuôn mặt xưa nay, cùng một Phật tánh.

 

Câu của ngài Trần Nhân Tông cũng có nghĩa tương tự. “Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau” nghĩa là tướng khác nhau (lạ) nhưng xem ắt bằng nhau, vì bằng nhau trong Phật tánh, cùng một Phật tánh. Nhưng cùng một Phật tánh ấy mà không biết “dời thân tâm” mà lại tạo nhiều hành động (nghiệp) xấu thì bèn chia hai đường: người thì “mặt thánh”, kẻ lại “lòng phàm”, cách xa nhau đến vàn vàn ngàn dặm.

Kệ rằng:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

(Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói thì ăn, hề, mệt ngủ yên

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền).

 

Đây là bài kệ kết thúc Cư Trần Lạc Đạo và bài kệ cũng bắt đầu bằng bốn chữ “Cư trần lạc đạo.”

 

Tại sao ở đời vui đạo? Sao không ở đời vui đời hay bỏ đời vui đạo? Bởi vì đời, từ bản tánh đến hiện tướng của nó, là đạo.

 

Khi thế giới, con người, sự vật đều biến thành vàng ròng thì duyên nào cũng là vàng: “Ấy là nơi dật sĩ tiêu dao, chỉn thực cảnh đạo nhân du hý.”

 

Ở đời vui đạo là nhậm vận, vô công dụng đạo, mỗi hành động đều là tự do vì nó không khởi sanh từ một tâm có phiền não, một tâm phân biệt ta người, một tâm chia cắt chủ thể đối tượng. Mỗi hành động đều tự phát, nghĩa là không vì nhân duyên gì, trong tánh Không, hiện hữu trong tánh Không, và tiêu tan trong tánh Không. Đói thì ăn, mệt thì ngủ. Chữ “thì” (tức) này nói lên sự không có chủ thể và đối tượng, hành động không có chủ thể và đối tượng tức là không hành động. Không hành động tức là không có nghiệp vì nghiệp (karma) có nghĩa là hành động.

 

Sự tìm kiếm hay sự tu hành dụng công đã chấm dứt, vì “trong nhà có báu thôi tìm kiếm”. Báu không chỉ ở trong nhà, mà còn ở thế giới, sự vật, con người ngoài kia, tất cả đều là báu vì tâm đã là báu. Trong nhà có báu nghĩa là trong thân tâm này có báu và thân tâm là báu thì thế giới thành báu.

 

“Thôi tìm kiếm” nói lên tính cách vô sự. Vô sự vì “tâm giải thoát và tuệ giải thoát” (Kinh Nikaya). Phiền não không còn, không ước vọng điều gì (vô nguyện) do đó không lo sợ điều gì (vô úy).

 

“Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi Thiền”: khi tâm đã trở về bản tánh của tâm vốn vô tâm, thì không còn tâm đối với cảnh, cảnh đối với tâm, chỉ có “một Chân Không”, trong đó nói thiền, nói định đều là thừa thãi.

 

Vua Trần Nhân Tông ngộ đạo, có cái Thấy từ lúc trẻ, khi học với Thượng sĩ Tuệ Trung. Sau đó sống trong cuộc đời làm vua, lại là một vị vua trong thời chiến tranh, ngài vẫn trau dồi cái Thấy ấy trong hạnh Bồ tát, “nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm”, “Dựng cầu đò, dồi chiên tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu. Chăm hỷ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc.”

 

Thế nên, nói về Đời, chắc khó có ai sống một cuộc đời nhiều việc đời bằng ngài. Thế nhưng chính trong cuộc đời với nhiều sự kiện, nhiều việc phải đối phó, giải quyết như vậy, ngài vẫn có thể tự tại, “ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đời và Đạo không hai.

 

Có lẽ ngài là tấm gương sáng nhất, một cuộc đời lý tưởng cho mọi người Việt học hỏi và sống theo, để được “ở đời vui đạo”, đời đạo Nhất Như.

 

Yên Tử