SỰ TIẾN HÓA DƯỚI GÓC NHÌN KHOA HỌC VÀ PHẬT GIÁO

Trích: Vũ Trụ Trong Một Nguyên Tử; Dịch: Lê Tuyên; NXB Hồng Đức

25/07/2026
13 lượt xem

Tại cuộc hội nghị với chủ đề Tâm hồn và Cuộc sống, Eric đã giải thích về hệ gen của con người bằng cách so sánh nó với kangyur, đây là tên một bộ sách được cho là của Phật giáo và đã được chuyển dịch sang tiếng Tây Tạng, bộ kinh này rất đồ sộ gồm tổng cộng một trăm cuốn, mỗi cuốn dày ba trăm trang. Cuốn nói về hệ gen của con người được trình bày qua hai mươi ba chương, hai mươi ba nhiễm sắc thể của con người, và mỗi hệ gen chứa đựng khoảng ba mươi ngàn cho đến tám mươi ngàn gen khác nhau.

Các bạn hãy hình dung, Eric nói, rằng trong suốt hàng triệu năm sao chép cuốn sách này, thỉnh thoảng một số sai lạc nào đó lại vô tình xuất hiện trong sách, những lỗi do thư ký biên chép, những lỗi chính tả chẳng hạn. Những lỗi này có thể vẫn tồn tại mãi cho đến những bản sao về sau, hết lỗi này đến lỗi khác chồng chất lên nhau. Một số lỗi về chính tả không gây ảnh hưởng tới nội dung gốc của sách, tuy nhiên, đôi khi cũng có những lỗi quan trọng gây ảnh hưởng lớn đến nội dung gốc của sách. Ví dụ, chỉ cần một lỗi nhỏ như thế này, bản gốc là câu khẳng định nhưng bản sao chép lại viết thành câu phủ định, cũng có thể làm cho nội dung cuốn sách bị hiểu sai lạc đi rất nhiều. Tôi được biết rằng chính những lỗi sao chép đa dạng này là các quá trình tiến hóa xuất hiện một cách ngẫu nhiên trong toàn bộ quá trình tiến hóa của vũ trụ.

Nhà sinh vật học người Mỹ tên là Ursula Goodenough đã nói như thế này, “Những thay đổi hoàn toàn xuất hiện rất ngẫu nhiên, nhưng sự chọn lựa lại vô cùng khắt khe!”. Từ góc độ lý luận, ý tưởng cho rằng những thay đổi này diễn ra một cách tự nhiên là một ý tưởng dễ hiểu, nhưng chính ý tưởng cho rằng những thay đổi này luôn diễn ra một cách ngẫu nhiên lại khiến tôi bối rối và không đồng tình lắm. Nó khiến tôi phải băn khoăn với câu hỏi rằng liệu sự ngẫu nhiên này có nên được hiểu là một nét đặc trưng khách quan của thực tại hay chúng ta nên hiểu là một hình thức của mối quan hệ nhân quả tiềm ẩn.

Ngược lại với khoa học, trước nay Phật giáo chưa hề có bất kỳ một cuộc hội thảo nào về vấn đề các sinh vật sống đã xuất hiện như thế nào từ chất vô sinh. Thực ra, Phật giáo không hề quan niệm rằng đây là một vấn đề quan trọng. Phật giáo ngụ ý rằng sự xuất hiện của các sinh vật sống từ chất vô sinh chính là do chuỗi quan hệ nhân quả vận hành theo thời gian, một số điều kiện ban đầu và các quy luật của thiên nhiên liên tục chi phối sự sống của mọi chúng sinh.

Sự khác biệt về sự quan tâm này cho thấy một sự trái ngược thú vị giữa Phật giáo và khoa học hiện đại, điều này có thể một phần có liên quan đến sự khác biệt về nền văn hóa, xã hội, lịch sử đóng vai trò là nền tảng cho sự phát triển của hai truyền thống nghiên cứu nhân văn này.

Sự khác biệt cơ bản giữa Phật giáo và khoa học hiện đại – liệu ranh giới phân biệt ở đây sẽ được vạch ra giữa các sinh vật sống và các vật chất vô tri vô giác, hay là ranh giới được vạch ra giữa các sinh vật sống và chất vô sinh – có những phân nhánh quan trọng, trong số những phân nhánh này có hai truyền thống nghiên cứu quan niệm về “hữu thức”. Theo sinh học hiện đại, hữu thức là một vấn đề thứ yếu, bởi vì nó là một đặc điểm trong tập hợp con của các sinh vật sống chứ không phải là của toàn bộ đời sống. Theo Phật giáo, vì định nghĩa về “sự sống” muốn nói đến mọi sinh linh, mọi chúng sinh, nên hữu thức là một đặc điểm quan trọng hàng đầu của “sự sống”.

Một điều nữa mà tôi nhận thấy trong lối suy nghĩ của Tây phương là, trong câu truyện về sự tiến hóa, nhân loại thừa hưởng một vị trí tồn tại vô song. Sự vô song này được hiểu theo một ý niệm nào đó có liên hệ đến “linh hồn”, và người ta cho rằng chỉ con người mới có được một “linh hồn” như thế. Nhiều người dường như luôn tin vào ba giai đoạn quan trọng trong suốt quá trình phát triển của sự sống: chất vô sinh – sinh vật sống – nhân loại. Phía sau quan niệm này có thể còn có một ý niệm cho rằng nhân loại sở hữu một cái gì đó thuộc một phạm trù rất khác biệt so với các động vật khác và các thực vật. Nói đúng ra, đây không phải là một khái niệm mang tính khoa học.

Ngược lại, nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử phát triển của triết lý Phật giáo, chúng ta sẽ nhận thấy Phật giáo luôn biết rằng động vật luôn giống với con người (cả động vật lẫn con người đều là những sinh linh) hơn là với thực vật. Sự hiểu biết này được dựa trên nền tảng là khái niệm cho rằng hoàn toàn không có sự khác biệt giữa con người và các động vật khác. Chúng ta là những con người, chúng ta luôn mong ước được vượt qua những đau khổ và chúng ta liên tục tìm kiếm niềm hạnh phúc, và động vật cũng thế. Tương tự, chúng ta là những con người có khả năng trải nghiệm đau khổ và hạnh phúc, động vật cũng thế. Nói theo cách lý luận thì, theo quan điểm Phật giáo, cả con người và động vật đều sở hữu những gì tiếng Tây Tạng gọi là shepa, từ này gần giống với từ “hữu thức”, dẫu rằng vẫn tồn tại một vài khác biệt nho nhỏ nào đó. Trong triết lý Phật giáo, hoàn toàn không có sự chấp nhận về sự hiện diện của một cái gì đó được gọi là “linh hồn” chỉ thuộc quyền sở hữu nơi con người. Xét về hữu thức, sự khác biệt giữa con người và động vật thuộc về mức độ chứ không thuộc về chủng loại.

Trong các đoạn kinh cổ của Phật giáo có một đoạn nói về một câu chuyện về sự tiến triển của con người, câu chuyện này được phổ biến rộng trong nhiều đoạn kinh Abhidharma. Câu chuyện này kể như sau: Thế giới Phật gồm có ba vương quốc tồn tại sự sống – vương quốc của những khao khát, vương quốc hữu hình và vương quốc vô hình. Vương quốc khao khát bị chi phối bởi các mong muốn thuộc khoái lạc và những đau khổ; đây là vương quốc mà chúng ta là những con người và các động vật đang tồn tại. Ngược lại, vương quốc hữu hình không hề bị chi phối bởi những đau khổ và luôn thấm nhuần niềm hạnh phúc. Những sinh linh tồn tại trong vương quốc này luôn sở hữu một thân thể mạnh khỏe và tràn ngập ánh sáng. Cuối cùng, vương quốc vô hình hoàn toàn vượt ra khỏi tất cả mọi cảm nhận thuộc giác quan của con người chúng ta. Sự tồn tại trong vương quốc này là trạng thái thanh thản vĩnh hằng, và những sinh linh tồn tại trong vương quốc này hoàn toàn không còn là những hiện thân vật chất nữa. Những ai tồn tại trong trạng thái cao hơn cả ba thế giới này được xem là những người sống trên trời cao. Họ chỉ tồn tại trong vô ảnh. Cũng cần phải lưu ý rằng cả ba vương quốc này đều tồn tại trong Chân lý tối thượng thứ nhất của Phật giáo. Cả ba vương quốc này đều không trường tồn vĩnh cửu, không phải là những gì thuộc thiên đường mà chúng ta mong mỏi. Cả ba vương quốc này đều tồn tại trong trạng thái đau khổ là tính tạm thời, không vĩnh cửu.

Sự tiến triển của đời sống nhân loại trên trái đất được hiểu là sự “đày ải” của những người sống trên trời cao, họ bị đày xuống vì nghiệp chướng của họ. Hoàn toàn không có những tội lỗi căn nguyên tạo ra sự đày ải của họ; họ bị đày ải như thế là do bản chất của sự tồn tại không vĩnh cửu, chính điều này tạo ra những thay đổi trong sự tồn tại của họ, họ phải “chết”. Khi những sinh linh này trải qua sự “đày ải” lần đầu tiên và được sinh ra trên trái đất, họ vẫn còn có được một chút ít những khả năng, những đặc điểm trước đây của mình. Những con người của kỷ nguyên đầu tiên này được xem là sở hữu những phẩm chất thần thánh. Phật giáo cho rằng họ tự nhiên xuất hiện, họ có vóc dáng đẹp tuyệt trần, cơ thể của họ phát quang, họ có được một số năng lực siêu nhiên thần thánh nào đó, chẳng hạn như họ có thể bay, và họ sống không cần đến thực phẩm mà chỉ cần trầm tư mặc tưởng (ngồi thiền); đồng thời cũng không có sự phân biệt về giới tính, chủng loài, đẳng cấp nơi họ.

Theo thời gian, người ta cho rằng, nhân loại bắt đầu tiến triển và sở hữu những phẩm chất gần gũi với những phẩm chất như ngày nay hơn. Khi họ tiếp thụ chất dinh dưỡng từ thực phẩm vật chất, cơ thể họ trở nên thô thiển hơn và thế nên ngoại hình của họ đa dạng hơn. Sự đa dạng về thể chất sau đó dẫn đến sự đa dạng về suy nghĩ tình cảm, con người sở hữu những suy nghĩ tình cảm tiêu cực, đặc biệt là lòng căm thù nơi con người. Hơn nữa, sự phụ thuộc vào thực phẩm vật chất để tồn tại dẫn đến quá trình vệ sinh tiểu tiện nơi con người, và – tôi không chắc lắm về lý luận ở đoạn này – điều này dẫn đến sự phân biệt giới tính giữa nam và nữ, đặc biệt là cơ quan sinh dục nơi thể chất con người. Câu chuyện này vẫn tiếp tục nói về căn nguyên hình thành nên tất cả mọi hành vi của con người, chẳng hạn như việc giết chóc, trộm cắp, và hành vi thông gian tình dục.

Quá trình tiến triển của con người được tập trung vào triết lý Abhidharma nói về bốn hình thức chào đời. Theo quan điểm này, mọi sinh linh có thể xuất hiện dưới hình thức là (1) con vật thực sự, chẳng hạn như chúng ta là con người; dưới hình thức là (2) trứng, chẳng hạn như chim chóc và bò sát; dưới hình thức là (3) nhiệt và độ ẩm, chẳng hạn như vô số các loài côn trùng; và dưới hình thức là (4) tự nhiên, chẳng hạn như các sinh linh thuộc vương quốc hữu hình và vô hình. Nói về sự đa dạng của đời sống, Chandrakirti đã trình bày rõ quan điểm chung của Phật giáo qua đoạn văn, “Thế giới tri giác xuất hiện từ tâm hồn. Cũng chính từ tâm hồn mà môi trường sống đa dạng của mọi sinh linh xuất hiện”.

Trong các đoạn kinh Phật xa xưa, chúng tôi tìm được những đoạn nói về vấn đề tâm hồn chính là đấng tạo hóa của toàn bộ vũ trụ này. Nhưng nhìn chung, hầu hết mọi nhà lý luận Phật giáo đều có xu hướng giải thích căn nguyên của thế giới này, ít ra thì cũng là thế giới của các sinh vật sống, qua sự vận hành của nghiệp chướng.

Học thuyết về nghiệp chướng (karma) đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong tư tưởng Phật giáo nhưng nó cũng dễ dàng bị xuyên tạc hoặc bị trình bày sai lạc. Theo nghĩa đen, karma có nghĩa là “hành vi” và có liên quan đến mọi hành vi có chủ tâm của con người. Những hành vi đó có thể thuộc thể chất, thuộc lời nói, hoặc thuộc tâm hồn – kể cả những suy nghĩ và những cảm xúc tình cảm – tất cả mọi hành vi này đều tác động đến tinh thần của một cá nhân, mọi lúc mọi nơi. Các chủ tâm dẫn đến hành vi, hành vi đem đến những tác động ảnh hưởng đến tâm hồn khiến tâm hồn bị gò ép theo một khuynh hướng thiên hướng nào đó, tất cả những điều này có thể tạo ra một số chủ tâm và một số hành vi xa hơn nữa. Toàn bộ quá trình này được xem là một động cơ vĩnh cửu vận hành đến vô tận. Chuỗi liên tục những hành vi này chồng chéo lên nhau tạo thành các nguyên nhân và các kết quả, các nguyên nhân và kết quả này không chỉ tác động đến mỗi cá nhân mà còn tác động đến toàn nhóm, toàn xã hội, không chỉ tác động trong một khoảnh khắc nào đó của cuộc sống, trong một kiếp sống nào đó, mà còn tác động đến cả kiếp sau.

Khi chúng tôi sử dụng từ “nghiệp chướng”, chúng tôi muốn nói đến những hành vi của từng cá nhân và toàn bộ quá trình vận hành của luật nhân quả. Trong Phật giáo, quan hệ nhân quả nghiệp chướng này được xem là một quá trình cơ bản diễn ra một cách tự nhiên, chứ không phải là do một sức mạnh thần thánh nào đó tạo ra. Sẽ là một sai sót nếu chúng ta hiểu rằng nghiệp chướng là một cái gì đó trừu tượng giống như hình ảnh về Thượng đế trong thuyết hữu thần, hoặc một cái gì đó mang tính định mệnh. Xét từ góc độ khoa học, học thuyết về nghiệp chướng có thể được xem là một kết luận mang tính lý thuyết suông – nhưng dẫu sao thì học thuyết này cũng không quá trừu tượng so với lý luận cho rằng toàn bộ đời sống này được hình thành chỉ qua sự chọn lựa ngẫu nhiên.

Về vai trò của học thuyết về nghiệp chướng trong việc tìm hiểu quá trình tiến triển của con người, tôi nhận thấy có nhiều lời giải thích rất hữu ích trong các đoạn kinh theo truyền thống Vajrayana. Theo như đoạn kinh Guhyasamaja thì xét ở mức độ cơ bản nhất, hoàn toàn không có sự phân biệt nào giữa tâm hồn và vật chất cả. Vật chất trong hình thức tinh vi nhất của nó được gọi là prana, đây được định nghĩa là một năng lượng thiết yếu không thể tách rời khỏi hữu thức. Tâm hồn và vật chất là hai khía cạnh khác nhau của một đối tượng không thể phân chia. Prana là khía cạnh thuộc về sự biến đổi, động cơ thúc đẩy, và tính cố kết, trong khi đó thì hữu thức lại là khía cạnh thuộc về nhận thức và khả năng phản ánh những suy nghĩ. Thế nên theo đoạn kinh Guhyasamaja này thì, khi một hệ thống thế giới xuất hiện, đó là lúc chúng ta chứng kiến được vai trò của Prana và hữu thức.
Nhìn chung, tôi nghĩ rằng thuyết tiến hóa của Darwin cho chúng ta có được một khái niệm khá rõ ràng về sự tiến hóa của đời sống con người trên trái đất. Đồng thời, tôi cũng tin rằng nghiệp chướng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu căn nguyên của những gì Phật giáo gọi là “tri giác”.

Mặc dù câu chuyện về thuyết tiến hóa của Darwin nghe khá thuyết phục, tôi vẫn không tin rằng tất cả mọi yếu tố trong câu chuyện đều đúng đắn. Mặc dù thuyết tiến hóa của Darwin cho chúng ta thấy được bức tranh về sự phát triển của đời sống con người trên hành tinh này và nhiều nguyên lý ẩn phía sau đó, chẳng hạn như nguyên lý về sự chọn lọc ngẫu nhiên, tôi vẫn không tin rằng học thuyết đó đã giải quyết được câu hỏi cơ bản về căn nguyên của sự sống. Chính bản thân Darwin, tôi được biết, cũng không xem đây là câu trả lời chính thức cho toàn bộ vấn đề về căn nguyên của sự sống. Hơn nữa, dường như xuất hiện một chiếc vòng luẩn quẩn nào đó trong khái niệm về “sự tồn tại của những gì thích hợp nhất”. Học thuyết về sự chọn lọc ngẫu nhiên cho thấy rằng, trong vô số những biến đổi ngẫu nhiên xảy ra trong hệ gen di truyền của các giống loài, thì những biến đổi nào thích hợp nhất với sự sống sẽ có khả năng tồn tại cao nhất. Tuy nhiên, học thuyết này chỉ được đưa ra sau khi người ta chỉ dựa vào những nghiên cứu về những đặc tính của những loài đã thực sự tồn tại mà thôi. Thế nên, xét một góc độ nào đó, chúng ta chỉ có thể phát biểu đơn giản như thế này: “Vì những thay đổi về gen di truyền này đã tồn tại, nên chúng là những sinh vật có cơ hội tồn tại cao nhất”.
Theo quan điểm Phật giáo, ý tưởng về việc cho rằng những thay đổi này chỉ xảy ra một cách ngẫu nhiên vẫn chưa phải là một lời giải thích thuyết phục cho căn nguyên hình thành sự sống. Karl Popper một lần nọ đã phát biểu rằng, theo ý anh ta thì thuyết tiến hóa của Darwin không thể giải thích được toàn bộ căn nguyên của sự sống này. Theo anh ta thì, thuyết tiến hóa này không phải là một học thuyết khoa học được chứng thực rõ ràng, mà chỉ là một lý thuyết đơn thuần góp phần định hướng cho quá trình tìm hiểu căn nguyên của sự sống. Hơn nữa, thuyết tiến hóa của Darwin cũng không giải thích được đầy đủ sự khác biệt về phẩm chất giữa các sinh vật sống, chẳng hạn như giữa cây cối và giữa động vật.

Bất luận sức thuyết phục của học thuyết Darwin về căn nguyên của sự sống như thế nào, trong vai trò là một tín đồ Phật giáo, tôi nhận thấy rằng vẫn còn đó một số điều cốt lõi mà học thuyết này chưa giải quyết được. Xét cho cùng thì, theo quan điểm Phật giáo, sở dĩ con người muốn tìm hiểu căn nguyên hình thành sự sống này cũng chỉ vì họ muốn tìm kiếm niềm hạnh phúc và vượt qua những đau khổ. Từ nay cho đến khi nào chúng ta có được một hiểu biết đáng tin về bản chất và căn nguyên hình thành hữu thức, câu chuyện khoa học về căn nguyên của sự sống và của vũ trụ vẫn chưa có đoạn kết.