BÀI HỌC QUA LỜI DẠY CỦA PHẬT VỀ SÁU PHÉP HÒA HỢP

HT. THÍCH NHẤT HẠNH

Trích: Đường Xưa Mây Trắng; NXB. Thời Đại

 

Năm ấy ở Kosambi đã xảy ra vụ tranh chấp giữa một vị kinh sư, người chuyên về giảng dạy và ôn tụng các lời Phật dạy, và một vị luật sư, người chuyên lo trì tụng về giới luật, tại tu viện Ghostra. Nguyên do vụ tranh chấp thật là bé nhỏ nhưng vì lòng tự ái của một số các thầy khất sĩ mà vụ tranh chấp đã gây nên chia rẽ trầm trọng trong đại chúng. Vị kinh sư này vì vô ý đã không đổ nước trong chậu sau khi sử dụng. Vị luật sư cho đó là phạm luật. Vị kinh sư nghĩ là vì không cố tình cho nên mình không có lỗi. Nguyên do vụ tranh chấp chỉ có thế, nhưng đệ tử của hai vị ai cũng bênh vực thầy mình và nói bên đối phương là sai lầm. Cuộc tranh chấp vì thế mà leo thang. Bên này bắt đầu nói bên kia là vu khống. Bên kia bắt đầu nói bên này là vọng ngữ. Cuối cùng vị luật sư tuyên bố giữa đại chúng là vị kinh sư phạm giới, và nếu không sám hối thì vị này sẽ không được phép tham dự các buổi bố tát tụng giới hàng nửa tháng.

Tình trạng trở nên căng thẳng. Hai bên nói qua nói lại. Những lời qua lại này cũng tai hại như những mũi tên độc. Các vị khất sĩ chia thành hai phe. Cũng may là có một số các vị khất sĩ không chịu theo phe nào. Họ than thở với nhau: “Chết mất, chết mất! Thế nào cũng có chia rẽ trầm trọng trong giáo đoàn”.

Trong khi đó, Phật vẫn chưa hay biết gì, tuy Người đang an cư ở một tịnh xá sát bên tu viện. Một số các vị khất sĩ đi tìm Phật và trình lên Người hiện tình của đại chúng, và cầu Phật can thiệp. Phật liền đi tìm vị luật sư. Người nói:

– Chúng ta không nên quá tin ở quan điểm riêng của chúng ta. Chúng ta phải lắng nghe và tìm hiểu quan điểm của người bên kia. Chúng ta phải làm mọi cách để tránh sự chia rẽ trong đại chúng.

Rồi Phật đi tìm vị kinh sư. Người cũng nói với vị kinh sư những lời mà Người đã nói với vị luật sư, hy vọng hai người sẽ đi tới hòa giải. Sau đó, Người trở về tịnh xá.

 

 

Nhưng cuộc can thiệp của Phật không có hiệu quả. Cả hai bên vì lời qua lẽ lại đều đã bị thương tích trầm trọng. Các vị khất sĩ đứng ở giữa không đủ sức để dàn xếp một cuộc hòa giải. Nội vụ được truyền tới tai giới đệ tử tại gia và chẳng bao lâu các giáo phái bên ngoài đều biết tới. Uy tín của đoàn thể khất sĩ bị thương tổn nặng. Đại đức Nagita, thị giả của Phật thấy thế không chịu nổi nữa. Thầy lại đem nội vụ trình lên Phật và cầu cứu Phật tới can thiệp một lần nữa.

Phật khoác áo và tới thẳng thính đường của tu viện. Người bảo đại đức Nagita thỉnh chuông triệu tập đại chúng. Khi mọi người đã tụ họp đầy đủ, Phật nói:

– Xin các thầy hãy chấm dứt việc tranh chấp và cãi cọ. Xin các thầy hãy chấm dứt tình trạng chia rẽ trong nội bộ giáo đoàn. Xin trở về với sự tu học. Nếu chúng ta tu học thật sự thì chúng ta không còn là nạn nhân của tự ái, giận hờn và chia rẽ nữa.

Một vị khất sĩ đứng lên, bạch:

– Thế Tôn, xin Thế Tôn đứng ra ngoài vụ tranh chấp này. Xin Người cứ an trú trong niềm vui tịnh lạc của thiền định. Đây không phải là việc của Người. Chúng tôi đã lớn, chúng tôi có thể tự mình giải quyết vụ này được, không cần đến Thế Tôn.

Vị khất sĩ nói xong, mọi người đều im lặng. Phật cũng im lặng.

Một lát sau, Người đứng dậy, rời bỏ thính đường. Người trở về tịnh xá lấy bình bát và áo, rồi Người một mình đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, Người vào rừng một mình để thọ trai. Thọ trai xong Người đứng dậy, ôm y bát từ bỏ thành phố Kosambi, hướng về phía bờ sông mà đi. Không ai được phép đi theo Người, kể cả thầy thị giả, kể cả đại đức Ananda.

Đức Phật đi về phía công viên Đông Trúc, tại đây Người gặp ba đệ tử của Người là đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila. Ba người đệ tử được gặp Phật rất mừng. Thầy Nandiya nâng bát cho Phật, còn thầy Kimbila thì nâng áo sanghati của Người. Họ sắp chỗ ngồi cho Phật bên một bụi tre vàng. Họ đem nước và khăn tới cho Phật rửa mặt và rửa chân. Rồi cả ba thầy chắp tay làm lễ Phật. Phật bảo ba thầy ngồi xuống bên cạnh:

Người hỏi:

Các thầy ở đây có được an tịnh không? Sự tu học có thuận lợi không? Việc khất thực hành hóa có dễ dàng không?

Thầy Anuruddha đáp:

– Bạch Thế Tôn, chúng con ở đây rất an ổn. Ở đây khung cảnh rất an tịnh. Việc khất thực và hành hóa cũng dễ dàng. Chúng con đã đạt được nhiều tiến bộ trong sự tu học.

Phật hỏi:

Các thầy có thương mến nhau và hòa hợp với nhau không?

– Thưa Thế Tôn, chúng con rất thương mến nhau. Chúng con hòa hợp với nhau một cách dễ dàng như nước với sữa. Riêng con, được sống với hai huynh Kimbila và Nandiya là một điều may mắn lớn cho đời con. Con trân quý tình bằng hữu này lắm. Mỗi khi con nói hay con làm một điều gì, dù là khi hai huynh không có mặt, con cũng nghĩ đến hai huynh. Con tự hỏi con: nói như thế và làm như thế thì hai huynh có vừa ý không? Nếu con có một chút nghi ngờ rằng lời nói và việc làm ấy có thể làm cho hai vị phật ý là con nhất định không nói và không làm. Thưa Thế Tôn, chúng con tuy là ba người mà cũng như là một.

Phật gật đầu ưng ý. Người nhìn hai thầy kia. Thầy Kimbila nói với Phật:

– Điều sư huynh Anuruddha nói đó là sự thật. Chúng con rất hòa hợp với nhau và rất thương mến nhau.

Thầy Nandiya nói:

– Chúng con biết chia sẻ cho nhau đồng đều mọi thứ. Từ chỗ ăn ngủ cho đến kiến thức và kinh nghiệm, chúng con đều sẵn lòng chia sẻ cho nhau.

Phật khen:

Tốt lắm! Tôi rất hài lòng khi thấy các thầy ăn ở với nhau như vậy. Có sự hòa hợp đó, một đoàn thể tu học mới thật sự là một đoàn thể tu học. Các thầy đã thật sự tỉnh thức cho nên mới thực hiện được sự hòa hợp đó.

Phật ở lại với ba thầy một tháng.

Người nhận xét như sau: Buổi sáng sau giờ thiền tọa, ba thầy cùng đi khất thực một lần. Khất thực xong, vị nào về trước thì đi sắp đặt chỗ ngồi, đi lấy nước uống, nước rửa và một cái chậu sạch để sẵn tại đó. Xong rồi vị ấy mới đi rửa mặt, rửa chân, và ngồi xuống để quán niệm và thọ trai. Trước khi thọ trai, vị ấy san bớt thức ăn trong bát vào chiếc chậu sạch. Thức ăn này là để dành cho vị khất sĩ nào không xin được đủ một phần ăn. Khi các vị kia về, thì nước rửa và nước uống đã có sẵn. Họ khỏi phải đi xách nước. Họ chỉ cần ngồi xuống rửa tay, rửa mặt và rửa chân trước khi ngồi xuống thọ trai. Sau khi thọ trai và uống nước, cả ba người cùng đi dọn dẹp. Nếu thức ăn trong chậu còn dư, họ đem đổ ở một khoảng đất không có cây cỏ, hoặc đổ xuống nước nơi không có loài vật nào đang sống. Họ cùng rửa và cùng úp các chậu lại. Ai thấy bình nước uống hết nước thì đi lấy thêm. Ai thấy vại nước rửa lưng đi thì đi xách nước thêm. Ai thấy cầu tiêu không được sạch thì đi chùi rửa. Việc gì cần hai hoặc ba người mới làm nổi thì họ đâu vai chung sức lại. Họ không cần bàn cãi gì hết về công việc hàng ngày. Cứ mỗi năm ngày họ ngồi lại một lần để cùng học hỏi giáo lý và trao đổi kinh nghiệm tu tập.

Trước khi từ giã ba thầy, Phật nói:

Các thầy, bản chất của một tăng đoàn (sangha) là sự hòa hợp.

Theo tôi, ta có thể minh định sự hòa hợp như sau:

  • Thứ nhất là thân hòa đồng trú, nghĩa là cùng chia sẻ với nhau một trung tâm tu học, một khu rừng hay một mái nhà.
  • Thứ hai là lợi hòa đồng quân, nghĩa là cùng chia sẻ với nhau đồng đều những tiện nghi của cuộc sống.
  • Thứ ba là giới hòa đồng tu, nghĩa là cùng hành trì với nhau những giới và những luật đã được truyền thọ và ban hành.
  • Thứ tư là khẩu hòa vô tranh, nghĩa là chỉ sử dụng thứ ngôn ngữ hòa hợp, tránh tất cả những lời nói có thể gây ra sự xích mích và tranh cãi.
  • Thứ năm là kiến hòa đồng giải, nghĩa là trao đổi và chia sẻ những hiểu biết và những kiến thức với nhau, không giấu giếm cái hiểu biết cho riêng mình, để cho mọi người cùng được học hiểu.
  • Thứ sáu là ý hòa đồng duyệt, nghĩa là các ý kiến khác nhau phải được tổng hợp lại, và không ai có thể bắt buộc người khác phải làm theo ý kiến riêng của mình như thế để tạo nên sự vui vẻ hòa hợp trong đoàn thể.

Các vị khất sĩ! Từ nay về sau, chúng ta phải lấy sáu nguyên tắc hòa hợp này mà sống với nhau.

Ba vị đại đức hoan hỷ tiếp nhận lời dạy của Phật.

 

Đường xưa mây trắng - sáu phép hòa hợp

Bình luận


Bài viết liên quan

  1. Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA SỰ HỢP TÁC

Bài viết khác của tác giả

  1. CÂU CHUYỆN VỀ CÔNG TY PATAGONIA
  2. TÌNH YÊU DÀNH CHO ĐẤT MẸ KHÔNG CÒN LÀ Ý NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG
  3. SAO MAI ĐÃ MỌC

Bài viết mới

  1. THỰC HÀNH CÁC PHÁP BA-LA-MẬT
  2. BỊ BỎ RƠI
  3. HÃY ĐỂ TRÍ TUỆ KHỞI SINH