VỀ KINH ĐÔ CẦU AN CHO CÔNG CHÚA THIÊN THỤY
Trích: Thiền Tông Bản Hạnh/ Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng; Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng Dịch và chú giảng. NXB Thế giới, 2020
LỜI GIỚI THIỆU
Thiền Tông Bản Hạnh là một tác phẩm của Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647-1726) viết về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử với ba vị vua – Thiền sư đầu tiên của đời Trần: Trần Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông. Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) là người chính thức khai sáng Thiền phái Trúc Lâm.
Thiền sư Chân Nguyên đã dựa vào Thánh Đăng ngữ lục, một tác phẩm vào cuối đời Trần và một số tác phẩm của chính ba vua để viết nên sách này, mà bản khắc in xưa nhất hiện còn là bản năm 1745.
Qua sách này, chúng ta biết rõ thêm về Thiền tông Việt Nam vào thế kỷ 17, hơn 300 năm sau Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Có thể nói Thiền Tông Bản Hạnh là một tóm tắt cho biết Thiền tông Việt Nam đã phát triển như thế nào cho tới ngài Chân Nguyên.
Sự phát triển của Thiền tông Việt Nam vẫn trên cùng một nền tảng chung của tất cả Phật giáo, đó là “tự tính Pháp thân“, nhưng với một vốn tu học rộng, ngài đã viết gần 20 tác phẩm bằng cả quốc âm và chữ Hán. Qua đó, ngài đã mở rộng thêm sự nối kết giữa Thiền và Tịnh, làm rõ thêm nền tảng tánh Không bằng những bài chú và bạt kinh Kim Cương, kinh Đại Bát Niết Bàn, giảng giải về Ba Thân trong Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh… Nhờ những cơ sở đó, trong thế kỷ 21 này, chúng ta có thể tiếp biến (acculturer) những nền văn hóa Phật giáo khác, khi nhân loại đang “toàn cầu hóa” mọi lãnh vực đời sống.
Một điều rất rõ trong Thiền Tông Bản Hạnh là lòng yêu nước của ngài rất mạnh mẽ, cũng gần ngang với lòng yêu đạo của ngài. Có thể thấy, trong quan niệm của ngài, Phật giáo là linh hồn, là tâm của đất nước Việt. Tiếc thay, ngài đã sống và làm việc trong thời đất nước chia hai Trịnh – Nguyễn, cho nên ước vọng lớn nhất của ngài khó có thể thực hiện.
Đọc và nghiên cứu sách này môi người chúng ta đều có thể rút ra được những tẩm nhìn, để đóng góp phần nhỏ nhoi của mình cho văn hóa Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.
(Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng)
♥♥♥
VỀ KINH ĐÔ CẦU AN CHO CÔNG CHÚA THIÊN THỤY
Thập nguyệt ngũ nhật bình minh
Thiên Thụy công chúa trong mình phải đau
Gia đồng Triệu Bản lên tâu
Đến Tử Tiêu am khấu đầu lạy vua:
“Công chúa bệnh đốc (nặng) chẳng qua.”
Nhân Tông thấy thốt nói ra lời này:
“Nhân duyên thời tiết vậy vay
Có sinh có tử xưa nay hằng lề”
Nhân Tông chống gậy ra đi
Hành giả hộ trì một người chân tay
Ba ngày đến kinh đô rày
Lập đàn phó chúc một ngày tái quy.
Ngày mồng năm tháng mười, công chúa Thiên Thụy là chị của ngài bệnh nặng, e khó qua khỏi, mới sai gia đồng là Triệu Bản lên am Tử Tiêu tâu với vua. Ngài nói, “Có sanh thì có tử, đó là lẽ thường. Nhân duyên hợp gọi là sống, nhân duyên tan gọi là chết, chỉ theo thời tiết nhân duyên thôi.”
Câu nói của ngài cho thấy thái độ bình tĩnh của người giải thoát trước lẽ sống chết ở đời. Sống nhuần nhuyễn với cái “không nhân duyên thời tiết‘ thì mới ôn tồn với cái nhân duyên thời tiết được; hằng ở nơi chỗ bất biến mới ứng xử tùy theo muôn sự biến đổi được.
Ngài chống gậy xuống núi, đi cùng một thị giả. Từ Yên Tử về kinh đô, ngài đi trong ba ngày. Ngài chỉ ở lại kinh đô một ngày, để lập đàn cầu an, rồi dặn dò (phó chúc) và trở lại núi.
Chúng ta thấy, không phải đắc tánh Không rồi bỏ qua nghi lễ, thế thái nhân tình. Trái lại, người giải thoát vì tâm rộng bao la nên càng chu đáo trong việc xử sự với đời. Người thấu đạt tánh Không (Lý) thì không bỏ Sự, bởi vì sự là nơi biểu lộ của lý tánh Không, cả hai là một. Đây gọi là Lý Sự viên dung vô ngại.
Đến chùa Cổ Châu một khi
Cất bút bày đề một kệ rằng bay:
“Thế sác nhất tức mặc
Thời tình lưỡng hải ngân
Ma cung hồn quản thậm
Phật quốc bất thắng xuân.”
Đến chùa Cổ Châu ngài nghỉ lại một đêm. Và ngài đề bài kệ này trên vách chùa:
Số đời một hơi lặng
Tình thời hai biển trăng
Cung ma chi sá kể
Nước Phật xuân không cùng.
Thế, thời đều chỉ cuộc sống trần gian, nhưng “thế” ám chỉ đến không gian nhiều hơn, trong khi “thời” ám chỉ thời gian nhiều hơn.
Số ở đời của ngài chỉ là một hơi thở lặng. Đời chỉ là một hơi thở, nhưng mà một hơi thở tịch lặng. Cuộc đời của ngài, có lẽ nhiều biến cố nhất trong các ông vua của lịch sử Việt Nam, sôi động như thế nhưng luôn luôn diễn ra trên nền tảng một hơi thở tịch lặng. Một hơi thở vô sanh.
Tình thời, chữ thời đối với chữ thế ở câu trên, thời là sự biến chuyển của thời gian. Lưỡng hải ngân là hai con mắt sáng như hai biển trăng. Những biến cố xảy ra trong thời gian được xem bằng đôi mắt như hai biển trăng, nghĩa là chúng đều tiêu dung vào hai con mắt như hai biển trăng ấy. Thời gian chỉ là những con sóng khởi lên, rồi lại tan ngay vào hai biển trăng, bao la và bình an của tâm giải thoát.
Cung ma chật chội lắm, chẳng đáng kể gì. Còn nước Phật là mùa xuân tươi mới, đẹp đẽ không cùng.
Qua bài kệ ngài tổng quát cuộc đời mình: một hơi thở tịch lặng đến vô sanh, những biến cố rất nhiều nhưng đều tan trong hai con mắt như hai biển trăng sáng. Như thế ngài đã chuyển hóa cuộc đời sanh tử vô thường sanh diệt này thành nước Phật xuân vô cùng.
Trong bài kệ cuối cùng được viết ra này, chúng ta thấy cuộc đời làm vua của ngài rất bận rộn và hiển hách, nhưng cuộc đời nhiều biến cố ấy đã xảy ra trên nền tảng tánh Không, nên ngài vẫn là người vô sự, tâm vẫn vô tâm, như lời Kinh Kim Cương nói, “Tâm quá khứ chẳng thể đắc, tâm hiện tại chẳng thể đắc, tâm vị lai chẳng thể đắc”.
Ngày sau đến chùa Sùng Nghiêm
Tuyên Từ thái hậu thết bữa thời trai
Về đến Hương Lâm thuở này
Nhức đầu khí liệt chân tay ngại kề.
Tình cờ hai thầy qua đi
Tử Dinh, Hoàn Trung tức thì mừng thay.
Nhân Tông thốt bảo rằng bay
“Lòng tao thuở này muốn tới Ngọa Vân”
Hai thầy liễm (chắp) tay đến gần
“Chúng tôi cảm lòng hộ niệm đường xa.”
Tu du (giây phút) xảy lên đến già
Nhân Tông thốt bảo: “Mữa (mới) qua lời này.”
Hôm sau ngài đến chùa Sùng Nghiêm, thái hậu Tuyên Từ thết đãi bữa cơm chay. Sau đó vua một mình về đến Hương Lâm thì thấy nhức đầu, chân tay rời rã. Khi ấy có hai thầy tu đi qua, ngài nhờ hai người dìu lên am trên núi Ngọa Vân.
“Chúng bay học đạo chớ chầy
Vô thường hai chữ kíp thay nan đào
Gọi lấy Bảo Sát cho tao
Có lời đặc nhủ tiêu hao mọi lòng”
Tuy là rất yếu, ngài vẫn dạy cho hai nhà sư, “Hãy nên học đạo chớ chậm trể, hai chữ vô thường gấp lắm khó tránh khỏi được.”
Rồi ngài bảo đi gọi Bảo Sát, để nhắn nhủ dặn dò những lời cuối cùng.
Hành giả tên là Pháp Không
Đến Vân Tiêu tự trong lòng thương thay
Nói trình Bảo Sát cho hay
“Tôn đức thời tiết thuở này chẳng qua.”
Bảo Sát lòng thương xót xa
Tay đem kinh giáo xuống mà tìm đi
Đường trường lặn suối sơn khê
Đêm ấy phải tối một khi nằm rừng
Coi thấy hắc vân bay không
Bảo Sát ngẫm được trong lòng biết hay.
Khi hành giả Pháp Không trình cho Bảo Sát, sư vội đi đến Ngọa Vân. Giữa đường đêm ấy ngủ lại trong rừng, sư thấy một đám mây đen trên trời, Bảo Sát ngẫm nghĩ biết là sắp có sự cố.
Lên đến Ngọa Vân thuở này,
Điều Ngự thốt bảo: “Muộn chày, tao mong
Vạn pháp bản lai chân không
Chẳng mắc mỗ pháp mới thông lòng thiền.“
Gặp Bảo Sát, ngài Điều Ngự dạy những lời cuối cùng:
“Muôn pháp bản lai là Chân Không. Chẳng vướng mắc pháp nào cả (mỗ pháp) thì lòng thiền mới thông”
Hóa ra sanh tử khổ đau chỉ là do vướng mắc vào các pháp do vọng tưởng tạo thành, chứ thật ra, các pháp bản lai là Chân Không. Tất cả vốn là Chân Không như hư không trong vắt, thế mà không biết rồi dựng lập ra các pháp, các tướng rồi vướng mắc vào đó để khổ đau. Như hư không không có hoa đốm, tưởng ra hoa đốm rồi nhọc mệt lấy bỏ, vui buồn…
Khi không bị các tướng như huyễn che ngăn thì tâm Thiền nơi ta mới thông. Thì ra Tâm Thiền nơi ta vốn thông, chỉ vì những vọng tưởng tự tạo mà chướng ngại làm ta không thấy, không thông. Tin rằng muôn pháp bản lai là Không thì nhìn thẳng trước mặt chúng ta sẽ bỏ qua, không vướng mắc vào hình tướng, để cho hình tướng tự động tan vào bản tánh Không của chúng. Cái nhìn thẳng trước mặt ấy thấy ra Chân Không. Như nhìn thẳng vào một tấm gương chúng ta sẽ thấy ra tấm gương và các hình bóng trong đó lùi lại, trở thành như huyễn.
Hãy tin rằng thế giới này có là do vọng tưởng phân biệt. Nhưng tin rằng có vọng tưởng phân biệt lại là một vọng tưởng khác.
Ốc (gọi) là pháp tính tự nhiên
Bất sinh bất diệt bản nguyên làu làu.
Chư Tổ phó chúc bấy lâu
Ý nghĩa mạt hậu để sau mà dùng.
Đó là pháp tính tự nhiên, vốn có sẵn. Bản tánh của nó là chẳng sanh chẳng diệt, vốn nguyên sáng sạch làu làu, không một hạt bụi. Đó là sự hiện diện vô thủy vô chung của tánh Không. Trong sự hiện diện thường hằng của tánh Không, chưa từng có sanh diệt, thường đoạn, một khác, đến đi, cũng chưa từng có cái gì che chướng khiến tâm không thông.
Chư Phật, chư Tổ chỉ phó chúc một Tâm bất sanh bất diệt duy nhất này, dù thời đại, hoàn cảnh, khuynh hướng… con người có đổi thay, nhưng cái bất sanh bất diệt này là sợi chỉ xuyên suốt dòng lịch sử. Nó sẽ còn được chứng ngộ và dùng mãi mặc cho bao nhiêu “đời mạt hậu”.
Ở đây chúng ta trích thêm một đoạn nói về lúc cuối cùng của cuộc đời ngài:
“Ngài hỏi Bảo Sát: “Bây giờ là mấy giờ?” Bảo Sát thưa: “Giờ Tý”. Ngài vén màn cửa sổ nhìn và nói:
“Đến giờ ta đi.”
Bảo Sát hỏi: – Tôn đức đi đến chỗ nào?
Ngài nói kệ đáp:
Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu hay hiểu như thế
Chư Phật thường hiện tiền.
Làm gì có chuyện đến đi!
Bảo Sát nói: – Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?
Ngài nhằm miệng Bảo Sát tát cho một cái, nói:
– Chớ nói mớ!
Nói xong, ngài nằm thế sư tử mà tịch”

