ĐIỀU NGỰ GIÁC HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Trích: Thiền Tông Bản Hạnh/ Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng; Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng chú giảng; NXB Thế giới, 2020

01/02/2026
195 lượt xem

LỜI GIỚI THIỆU

 

Thiền Tông Bản Hạnh là một tác phẩm của Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647-1726) viết về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử với ba vị vua – Thiền sư đầu tiên của đời Trần: Trần Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông. Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) là người chính thức khai sáng Thiền phái Trúc Lâm.

 

Thiền sư Chân Nguyên đã dựa vào Thánh Đăng ngữ lục, một tác phẩm vào cuối đời Trần và một số tác phẩm của chính ba vua để viết nên sách này, mà bản khắc in xưa nhất hiện còn là bản năm 1745.

 

Qua sách này, chúng ta biết rõ thêm về Thiền tông Việt Nam vào thế kỷ 17, hơn 300 năm sau Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Có thể nói Thiền Tông Bản Hạnh là một tóm tắt cho biết Thiền tông Việt Nam đã phát triển như thế nào cho tới ngài Chân Nguyên.

 

Sự phát triển của Thiền tông Việt Nam vẫn trên cùng một nền tảng chung của tất cả Phật giáo, đó là “tự tính Pháp thân“, nhưng với một vốn tu học rộng, ngài đã viết gần 20 tác phẩm bằng cả quốc âm và chữ Hán. Qua đó, ngài đã mở rộng thêm sự nối kết giữa Thiền và Tịnh, làm rõ thêm nền tảng tánh Không bằng những bài chú và bạt kinh Kim Cương, kinh Đại Bát Niết Bàn, giảng giải về Ba Thân trong Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh… Nhờ những cơ sở đó, trong thế kỷ 21 này, chúng ta có thể tiếp biến (acculturer) những nền văn hóa Phật giáo khác, khi nhân loại đang “toàn cầu hóa” mọi lãnh vực đời sống.

 

Một điều rất rõ trong Thiền Tông Bản Hạnh là lòng yêu nước của ngài rất mạnh mẽ, cũng gần ngang với lòng yêu đạo của ngài. Có thể thấy, trong quan niệm của ngài, Phật giáo là linh hồn, là tâm của đất nước Việt. Tiếc thay, ngài đã sống và làm việc trong thời đất nước chia hai Trịnh – Nguyễn, cho nên ước vọng lớn nhất của ngài khó có thể thực hiện.

Đọc và nghiên cứu sách này môi người chúng ta đều có thể rút ra được những tẩm nhìn, để đóng góp phần nhỏ nhoi của mình cho văn hóa Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

(Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng)

♥♥♥

 

Này đoạn Nhân Tông kể ra

Thánh mẫu là mẹ lòng hòa có nhân

Giấc hòe thoắt nhắp đêm xuân

Chiêm bao xảy thấy thần nhân một người

Cao cả tượng sứ nhà Trời.

Trao cho lưỡng kiếm có người bảo vay

Hoàng hậu sực thức đêm chầy

Thấy điềm sự lạ tâu bày Thánh Tông

Lòng vua thấy vậy cực mừng

Bàn mộng thốt rằng: “Ấy trời tộ (cho) ta”.

♥♥♥

Hoàng hậu của vua Thánh Tông nằm mộng thấy thần nhân nhà Trời trao cho hai cây kiếm và có lời dặn dò. Đó là điềm vua Nhân Tông tài đức sẽ sanh ra.

♥♥♥

Từ ngày chiêm bao đã qua

Hoàng hậu thụ thai càng hòa tốt tươi

Mãn nguyệt no tháng thoát thai

Mình vàng kim sắc tướng người lạ thay.

Vua cha thốt bảo rằng: “Bay,

Hay ta có đức sinh nay Bụt vàng.”

Hữu kiên (vai phải) nốt ruồi bên nương (dưới vai)

Thuật sĩ xem tướng đoán lường rằng: “Bay,

Thái tử chí cả bằng nay

Gánh việc đại khí làm thầy mười phương.”

Cha mẹ dưỡng dụ yêu đương

Đặt hiệu cho chàng là Điều Ngự Vương.

♥♥♥

Khi sinh ra vua Nhân Tông có thân tướng sắc vàng. Vua cha cho là hoàng gia có đức mới sanh được Phật có sắc vàng. Vai phải lại có nút ruồi, ngài sẽ có chí lớn, gánh vác việc lớn và làm thầy mười phương. Ngài được đặt hiệu là Điều Ngự Vương. Điều Ngự để chỉ Phật, Điều Ngự Vương là Vua Phật.

♥♥♥

Tuổi mới mười sáu niên phương

Vua cha định liệu cho thăng trị vì

Điều Ngự hai phen tâu quỳ

Khiến nhường cho em trị vì thay anh

Thái tử lòng muốn tu hành

Nhìn xem phú quý tâm tình dưng dưng

Tuy ở điện bệ đông cung

Lòng hằng chở (vẫn) nhớ tông phong nhà Thiền.

♥♥♥

Năm mười sáu tuổi vua cha đã sửa soạn cho lên trị vì, nhưng ngài hai lần quỳ xin nhường cho em. Ngài chỉ muốn tu hành, tìm đến một đời sống tâm linh cao cả, dửng dưng với phú quý.

Tuy ở Đông cung, ngài vẫn thấy chật chội, tù túng, lòng vẫn luôn nhớ tưởng về cái tâm bao la của Thiền, cái tông phong nhà Thiền, “Tông là nguyên tự tính ta, vốn vô nhất vật lặng hòa hư linh”.

♥♥♥

Đêm khuya bóng nguyệt kề hiên

 Chiêm bao xảy thấy hoa sen mọc bày

Có người chỉ bảo rằng: “Bay

Ngẫm thấy phen này thái tử có duyên

Ấy là Phật báu hoa sen”

Thái tử từ ấy những nguyền ăn chay.

♥♥♥

Một hôm thái tử nằm mộng thấy có hoa sen vàng, lớn như bánh xe, mọc lên từ rốn. Trên hoa sen có Đức Phật vàng. Có người bên cạnh chỉ vào ngài nói, “Đây là Biến Chiếu Phật”.

Từ đó thái tử nguyện ăn chay.

♥♥♥

Mặt mũi mình vóc đã gầy

Vua cha xem thấy ngày rày hỏi con.

Thái tử quỳ lạy tâu van

Thánh Tông nước mắt hòa chan dòng dòng

“Ai hầu nối nghiệp tổ tông?

Tuổi cha già cả cong lòng khá thương”.

Thái tử nước mắt đượm nương

Phụ tử tình thâm cảm thương thay là

♥♥♥

Thái tử muốn đi tu, nhưng vua cha bảo thế thì lấy ai nối nghiệp tổ tông, trong khi cha đã già. Cả vua cha và thái tử đều khóc.

♥♥♥

Học đạo báo ơn mẹ cha

Đêm ấy thái tử thoát ra du (qua) thành

Tìm lên Yên Tử một mình

Đến Đông Cứu sơn, thiên minh rạng ngày

Giả tướng lệ (sợ) người thấy hay

Vào nằm trong tháp một giây đỗ dừng

Tăng tự thấy tướng lạ lùng

Làm bữa cơm thết cúng dường cho ăn

♥♥♥

Thái tử đã suy nghĩ nhiều về việc bỏ nhà: học đạo thì báo ơn cha mẹ được nhiều hơn, việc triều chính thì đã có em lo, và đi tu giúp cho đất nước nhiều hơn. Do đó ngay đêm ấy đã tìm lên Yên Tử.

♥♥♥

Hoàng hậu liền tâu minh quân

Rao bảo thiên hạ quần thần đông tây

Tìm đòi thái tử chớ chầy

Bắt em thay trị liền tay tức thì

Thuở ấy thái tử lại về

Vua cha nhượng vì cho trị toàn dân.

♥♥♥

Cả triều đình đi tìm kiếm, thái tử đành về lên ngôi vua, sống một cuộc đời vừa làm vua vừa tu hành. Chính nhờ lối tu ngay trong đời như thế này, mà về sau ngài làm Cư Trần Lạc Đạo Phú: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên”.