KINH KIM QUANG MINH ĐỐI VỚI XÃ HỘI VÀ QUỐC GIA.
Trích: Thư Viện Hoa Sen.

Kinh Kim Quang Minh (Suvarnaprabhasa Sutra) là một trong chín bộ kinh làm nền tảng cho Phật giáo Nepal. Kinh này đã được dịch từ tiếng Sanskrit và hiện còn trong đại tạng Tây Tạng. Ở Trung Hoa, kinh được dịch lần đầu bởi ngài Đàm Vô Sấm (385-433). Ngài Nghĩa Tịnh (635-713) đi Ấn Độ đem về bản kinh đầy đủ nhất và dịch ra tiếng Hán. Trong bài này trích từ cuốn kinh của ngài Nghĩa Tịnh. Những chữ để trong ngoặc kép là nguyên văn của kinh.
1/ Thọ mạng vô lượng: Pháp thân
Kinh bắt đầu bằng ý nghĩ của Bồ tát Diệu Tràng ở thành Vương xá: “Vì lý do nào mà đức Thế Tôn Thích Ca thọ lượng ngắn ngủi, chỉ tám mươi năm?”.
Đây là một câu hỏi không chỉ về đức Phật, mà chủ yếu là về hiện sinh của mỗi người: Nếu đức Phật mà còn phải nhập diệt, thế thì con người chúng ta, ‘cát bụi lại trở về cát bụi’ hay sao?
Kinh trả lời qua bài kệ:
Cảnh giới Phật khó thấu
Thế gian không đồng đẳng
Pháp thân ngài thường trụ
Tu hành không sai khác
Thể chư Phật đều đồng
Pháp được thuyết cũng vậy.
Chư Phật không tác giả
Cũng lại vốn vô sanh.
Thể Thế Tôn kim cương
Quyền biến hiện hóa thân
Thế nên xá lợi Phật
Không giống như hạt cải.
Phật chẳng thân máu thịt
Làm sao có xá lợi?
…
Pháp thân là chánh giác
Pháp giới tức Như Lai
Đây là chân thân Phật
Cũng nói pháp như vậy.
(phẩm Thọ lượng của Như Lai)
Xác thân (một hóa thân) ở thế giới vật lý này thì phải có sự sanh ra và diệt mất. Nhưng pháp thân, theo kinh, thì:
“Vì không đến không đi và không nắm giữ, đó là Pháp thân chẳng sanh chẳng diệt. Phiền não là khách, pháp tánh là chủ, không đến không đi. Chân Như là thật, còn lại đều là hư giả, Chân Như là Như Lai. Như Lai rõ biết thể tánh của chúng sanh và các pháp đều là Không, lìa Không thì chẳng phải có, tánh Không tức là chân pháp thân, gọi là Niết bàn”.
(phẩm Thọ lượng của Như Lai)
Pháp thân tánh Không – Chân Như, không đến không đi, không sanh không diệt, nói theo Bát nhã Tâm kinh thì có thêm, “không dơ không sạch, không tăng không giảm”. Đạt được Pháp thân này thì giải thoát, giác ngộ.
Pháp thân được kinh ví là vàng, không biến chất càng tinh luyện thì càng sáng sạch, cho đến tỏa ra ánh sáng. Kinh có tên là Kim Quang Minh, nghĩa là Ánh sáng Vàng ròng là như vậy.
Nhưng Pháp thân, và cả Báo thân, Hóa thân không phải chỉ dành riêng cho chư Phật, chư Đại Bồ tát. Ba thân ấy dành cho tất cả mọi người.
“Ba Thân như vậy bao gồm đầy đủ Giác ngộ Vô thượng. Nếu người nào rõ biết chân thật thì mau chóng thoát khỏi sanh tử”.
(Phẩm Phân biệt Ba thân)
2/ Sám hối
Bài kệ sám hối do cái trống bằng vàng (kim cổ) phát ra. Đây có thể nói là bài kệ sám hối xưa nhất đầy đủ nhất, và hay nhất có trong các kinh.
Tại sao phải sám hối? Để tiêu trừ “phiền não chướng và sở tri chướng” che khuất pháp thân. Sám hối để tẩy trừ những lỗi lầm mỗi người đã tự tạo cho mình trên con đường sanh tử mê mờ, làm che lấp pháp thân tánh Không – Chân Như, che lấp Ánh sáng Vàng ròng vốn có nơi mỗi người.
Lỗi lầm căn bản là sự phân biệt chia cắt giữa mình và người (nhân – ngã), từ đó mọi phiền não sanh khởi:
“Không có nhân – ngã, chỉ có pháp sanh diệt được chuyển y, nên gọi là Niết bàn”.
Sám là thấy ra những lỗi trước, hối là xin chừa những lỗi về sau. Chính Ánh sáng Vàng ròng, tức pháp thân tánh Không, là nền tảng để diệt sạch tội chướng:
Trống Kim Quang Minh phát tiếng diệu
Vang khắp cõi tam thiên đại thiên
Diệt trừ tội nặng ba đường ác
Và những khổ ách cõi nhân gian
….
Trời, người, bàng sanh và ngạ quỷ
Hiện tại đang chịu những khổ nạn
Được nghe trống vàng phát tiếng diệu
Đều được khỏi khổ, đạt giải thoát.
(phẩm Mộng thấy trống vàng sám hối)
Tiêu trừ các nghiệp bất thiện không chỉ bằng sám hối, mà còn bằng tích cực làm những việc thiện, những hạnh cứu độ của Bồ tát, bằng “phước và trí”. Đây là đoạn trong cùng bài kệ sám hối ở trên:
Tạo các tội như trên
Con nay xin sám hối!
Con ở mười phương cõi
Cúng dường vô số Phật
Nguyện cứu giúp chúng sanh
Khiến lìa các khổ nạn.
Nguyện tất cả hữu tình
Đều trụ trong Mười Địa
Phước trí viên mãn rồi
Thành Phật độ quần sanh.
Con vì các chúng sanh
Khổ hạnh trăm ngàn kiếp
Dùng lực đại trí huệ
Khiến họ rời biển khổ.
Con vì các hữu tình
Diễn nói kinh sâu xa
Tối thắng Kim Quang Minh
Hay trừ các nghiệp ác…
(phẩm Mộng thấy trống vàng sám hối)
Tiêu trừ nghiệp chướng bằng cách tạo ra những công đức như “tùy hỷ”, “thỉnh chuyển pháp luân”, “thỉnh Phật trụ thế”, “hồi hướng công đức”…
Tất cả sự sắm hối để tiêu trừ nghiệp chướng và tích tập công đức đều đặt trên nền tảng pháp thân tánh Không – Chân Như, hay tánh vàng bất biến của cái Trống bằng vàng:
“Pháp thân gồm giữ tất cả pháp mà tất cả pháp chẳng bao gồm pháp thân. Pháp thân có thể phá tan các kiến chấp sai lầm của chúng sanh, có thể làm phát sanh các kiến giải chân chánh, Pháp thân có thể cởi mở mọi thứ ràng buộc của chúng sanh mặc dù không thật có ràng buộc nào để cởi mở. Có thể gieo trồng những thiện căn công đức. Pháp thân không tạo tác, không động, lìa xa náo loạn, tịch tĩnh vô vi, tự tại an lạc, siêu thoát khỏi ba đời mà có thể thị hiện ba đời, sanh ra cảnh giới của Thanh Văn, Độc Giác, việc tu hành của các đại Bồ tát, thể tánh pháp thân của tất cả chư Phật không có khác biệt”.
(phẩm Diệt trừ nghiệp chướng)
3/ Hạnh Bồ tát trong xã hội và quốc gia
Hạnh Bồ tát hoạt động ở thế giới này, giữa các con người tạo thành xã hội. Đặc biệt kinh Kim Quang Minh chú trọng đến đức hạnh của các vị vua, dân chúng, và cách điều hành xã hội và quốc gia. Kinh có hẳn một chương “Chánh luận vương pháp”.
Không phải vô tình mà ở những chương đầu của kinh nói về sám hối và trồng thiện căn, xem có vẻ ứng dụng cho cuộc sống cá nhân, và cuối kinh lại nói đến đời sống của quốc gia. Sự sám hối và trồng thiện căn được áp dụng cho từng cá nhân và cho cả xã hội, cả thế giới, vì âm thanh của cái trống bằng vàng “vang khắp cả thế giới tam thiên đại thiên”.
Phải sám hối và trồng thiện căn công đức, vì không có một cá nhân nào không từng phạm tội, không có một quốc gia nào không từng phạm tội và cá nhân vẫn còn thiếu công đức, quốc gia vẫn còn thiếu công đức. Để thế giới đầy đủ Ánh sáng vàng ròng, cá nhân và quốc gia phải làm nhiều, thật nhiều hơn nữa.
Trong chương Phân biệt ba thân thứ 3, kinh nói về bốn cái lợi cho quốc gia của kinh Kim Quang Minh do các Thiên nói:
“Bấy giờ đại Bồ tát Hư Không Tạng, Phạm vương, Đế thích, bốn Thiên vương, chư thiên, tức thì từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai bên phải, chắp tay cung kính, đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, thưa rằng:
Bạch Thế Tôn! Ở nơi nào có giảng nói kinh mầu nhiệm Ánh sáng Vàng ròng này, thì quốc gia ấy có bốn cái lợi. Một, quân chúng của quốc vương hùng mạnh, không có oán địch, tật bệnh, tuổi thọ lâu dài, an lạc cát tường, chánh pháp hưng thịnh. Hai, hoàng gia và quần thần vui hòa, không dua nịnh. Ba, sa môn, bà la môn thực hành chánh pháp, không bệnh, an vui, tuổi thọ, phụng sự tất cả ruộng phước. Bốn, ngày đêm cơ thể điều hòa, thích nghi, thường được chư thiên ủng hộ, từ bi, bình đẳng, không có tâm gây thương tổn, làm hại, các chúng sanh quy kính Tam bảo, đều nguyện tu tập hạnh Bồ đề”.
Chương Vương pháp chính luận thứ 20 nói:
“Trong mọi quốc gia, những người làm quốc vương, nếu không có chánh pháp thì không thể quản trị quốc gia, an dưỡng quốc dân, không thể ngồi lâu vương vị...
Do lực nghiệp thiện cũ
Sanh thiên làm thiên chủ
Nếu ở tại cõi người
Làm quốc vương thống lĩnh…
Dẫu sanh trong loài người
Tôn hơn nên gọi Trời
Do chư thiên hộ vệ
Nên được gọi con trời...
Dân chúng tạo nghiệp ác
Quốc vương không cấm ngăn
Ấy chẳng phải chánh pháp
Không đúng pháp sửa trị...
Quốc vương thấy quốc dân
Làm ác mà không ngăn
Thì chư Thiên Đao Lợi
Cũng sanh ra phẫn nộ…
Do pháp mới làm vua,
Mà chẳng hành chánh pháp
Quốc dân phải tan rã
Như voi đạp ao sen...”
Thiếu chánh pháp thì cả thiên nhiên, việc trồng trọt cũng trở thành xấu. Đất nước tổn giảm phước đức, sinh khí, kéo theo sự thiếu hụt sinh khí ở dân chúng.
Những loại cây trong nước
Trước sinh trái ngon ngọt
Nay vì thế tổn giảm
Đắng chát, mất hết vị.
Trước đây vườn rừng đẹp
Chỗ du ngoạn hữu tình
Bỗng nhiên đều khô héo
Người thấy sanh lo buồn.
Gạo, mì, những quả trái
Phẩm chất tiêu mất dần
Ăn không còn thấy thích
Sao bổ dưỡng các đại?
Dân chúng giảm tươi sáng
Khỏe đẹp đều suy tàn
Ăn uống có nhiều hơn
Mà thân tâm thiếu sức.
Nhờ tu tập theo chánh pháp, tích tập công đức và tích tập trí huệ mà môi trường sống, dân chúng cho đến các nhà lãnh đạo đều khỏe mạnh, sung túc, trí sáng để phụng sự cho đời, cho đất nước và thế giới.
Như thế trị nước theo chánh pháp đem lại nhiều lợi lạc cho đời sống xã hội. Khi ấy xã hội vận hành theo chánh pháp, và người ta thấy rõ, nếu để chánh pháp vận hành những hoạt động xã hội thì xã hội ấy tiến bộ cả về vật chất và tâm linh.
Ở đây trích một đoạn nhỏ về việc sự cung kính của nhà vua khi nghênh đón Pháp sư:
“Do nhân duyên gì mà quốc vương ấy gần gũi cung kính cúng dường như vậy? Do việc nhắc chân lên, hạ chân xuống của quốc phương ấy, từng bước từng bước đều cung kính, phụng sự tôn trọng trăm ngàn vạn ức vô số chư vị Như Lai, được vượt qua ngần ấy số kiếp khổ sanh tử, tương lai được nhận ngôi vị chuyển luân vương thù thắng”
(phẩm Bốn Thiên vương hộ quốc, thứ 12)
Đức hạnh của nhà vua trong những cử chỉ của thân là như vậy.
Tóm lại, kinh không chỉ dành riêng để tích tập phước – trí cho mỗi cá nhân, mà còn cho xã hội và quốc gia, cho đến các quốc gia, nghĩa là thế giới.
4/ Sự ủng hộ của chư Thiên
Trong Nikaya, có nói đến sự liên lạc mật thiết giữa người và chư Thiên. Trong Sáu Niệm, niệm thứ sáu là Niệm Thiên. Khi Đức Phật bảo các đệ tử đi truyền bá Chánh Pháp, ngài đã gắn liền nhân loại với chư Thiên:
“Hãy ra đi, các Tỳ kheo, đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người, đem hạnh phúc đến nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc đến cho chư Thiên và nhân loại...”
Trong kinh này có Bốn Thiên vương hộ quốc, các Thiên vương, Thiên nữ, Đại tướng Dược xoa, Dược thần… mỗi vị đều phát nguyện hộ trì cho những quốc gia nào lấy chánh pháp làm lẽ sống. Các vị còn cho các mật chú để hộ trì, ủng hộ cho những người trì kinh, “đem chánh pháp phục vụ thế giới”. Thế nên kinh có những chương như “Thiên nữ Đại Cát Tường tăng trưởng tài vật”, “Thiên nữ Đại Biện Tài giúp cho hùng biện vô ngại”, “Kiên Lao Địa thần đến hiến cúng, tôn kính, hộ vệ quảng bá”…
Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Địa có nói các Bồ tát ở trong Mười Địa có đủ phước – trí có thể làm vua hoặc các vua trời. Sơ địa phần nhiều hiện thân làm vua ở cõi Diêm Phù Đề, Nhị địa phần nhiều làm Chuyển Luân Thánh Vương, Đệ tứ địa phần nhiều làm Dạ Ma Thiên vương, Đệ cửu địa thường làm Đại Phạm Thiên Vương… Như thế những Thiên vương đều là những bậc thánh trong Mười Địa nên có đủ phước lực, trí lực để hộ trì, ủng hộ, trợ giúp những người làm thiện ở thế gian này.
Kinh Kim Quang Minh chỉ dạy những phương pháp để đạt đến những thành tựu tâm linh, đó là đạt đến tánh Không – Chân Như, nền tảng của con người và của vũ trụ. Đồng thời chỉ cho những phương pháp (cụ thể là những mật chú) để có được những thành tựu trong thế giới vật chất làm căn bản phục vụ cho đời sống tâm linh của mình và của người. Đây là sự hợp nhất giữa Chân đế (tánh Không – Chân Như) và Thế đế (trợ giúp cho vai trò, cuộc sống và công việc của hành giả ở đời).
Hạnh Bồ tát là trong Chân đế có Thế đế và trong Thế đế có Chân đế; trong sắc có Không và trong Không có sắc.
Kinh không chỉ nhắm đến đời sống giải thoát, xuất thế gian (Thể) mà còn giúp cho hoạt động của đời sống thế gian (Dụng) để làm hạnh Bồ tát giữa đời. Như trong Kinh Nhật tụng sám hối có câu: “Hai đế dung thông: tam muội ấn”.
Đây là lý tưởng Đời – Đạo không hai, Bi – Trí không hai của Bồ tát đạo.
