BIỆN CHỨNG CỦA TIẾN HÓA: NGÃ VÀ VÔ NGÃ
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen.

1/ Vũ trụ phân tán, cách biệt nhau thành từng hệ thống nhỏ
Ngày nay, khoa học đã cho thấy vũ trụ tiến hóa từ đơn giản đến phức tạp, bằng vụ nổ Big Bang cách đây khoảng 13,8 tỷ năm. Vũ trụ tiến hóa từ vật chất không có sự sống đến vật chất có sự sống đến các sinh vật và đến con người.
Như vậy những nguyên tử hiện giờ trong mỗi người chúng ta đều đã có mặt từ buổi đầu vũ trụ. Về thế giới vật chất, chúng ta sanh ra cùng với vũ trụ. Ngày xưa, Trang Tử (thế kỷ 4-3 trước Công nguyên) đã nói: “Trời đất cùng với ta sinh ra, vạn vật với ta là một” (Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất).
Trên trái đất này con người là sinh vật tiến hóa cao nhất. Nền văn minh văn hóa hiện nay là do con người sáng tạo ra, nhìn chỗ nào cũng thấy bàn tay và khối óc của con người.
Về mặt thế giới vật lý, vũ trụ càng ngày càng nở lớn, vật chất càng ngày càng phức tạp, đa dạng, như gene, như đủ loại tế bào, sự sống càng đa dạng trong mọi hình thức.
Vũ trụ vật lý đang trong quá trình phát triển đa dạng, tách lìa nhau, quá trình phân tán. Và con người cũng thế, phân tán thành những quốc gia tách biệt nhau, trí óc con người phân tán thành rất nhiều môn học, nghiên cứu, thành những nghề nghiệp riêng biệt, và trong mỗi nghề lại có hàng trăm nghề khác, ngành nghiên cứu khác.
Vũ trụ phân tán và cá biệt hóa. Phân tán và cá biệt hóa của vũ trụ là những đám mây bụi, dần dần đọng lại, cứng đặc lại thành những ngôi sao, hành tinh… thành một vật thể tách biệt có thể đặt tên và gọi tên.
Ở con người, cá nhân hóa là sự tạo lập một bản ngã, một cái tôi tách biệt với mọi sự khác, mọi cái tôi khác. Thế nên xã hội là tập hợp những con người cá nhân hóa, dù được điều hành bằng những luật lệ xã hội, bằng những quy ước sống chung để trở nên có trật tự.
2/ Con người tiến hóa bằng sự tách biệt thành cá nhân, bản ngã, trí óc riêng biệt.
Có thể nói sự tiến hóa của vũ trụ và con người theo chiều hướng tạo ra sự tách biệt và khác biệt. Vũ trụ phân hóa và con người cũng phân hóa. Sự tiến hóa cho đến ngày nay chính là phân hóa.
Sự phân hóa ấy là từ cái Một phân hóa thành cái Nhiều, từ sự đơn nhất thành sự phức tạp.
Sự tiến hóa phân hóa của vũ trụ con người cho đến bây giờ, trên phương diện vật lý và sinh lý, thật ra không tạo nhiều khác biệt. Nói về gen, con tinh tinh có đến gần 99% gen giống người, chuột 85% gen giống người, con gà thì 60%, hạt lúa 50% đến 60%… Về mặt sinh học, thực vật và động vật trên trái đất này như thể cùng một ‘tổ tiên’ vậy. Các sinh vật không ít hơn gen bao nhiêu so với con người, nhưng tại sao con người phát triển và khác biệt nhau đến thế?
Đó là do ý thức phát triển của con người. Mỗi người lại khác nhau do ý thức phát triển nhiều hay ít, hoàn cảnh, ngoại cảnh, ngôn ngữ, giáo dục… càng làm sự khác biệt giữa các cá nhân thêm nhiều. Ý thức tạo ra một cái tôi và những ý tưởng, những xúc cảm… khiến loài người được cá thể hóa, cá nhân hóa mà con người nếu không biết sẽ càng ngày càng cá nhân, càng xa cách nhau, có khi tranh đấu, chiến tranh với nhau. Cá nhân hóa làm con người khác biệt nhau, hơn nữa, cách biệt với tổ tiên, nguồn cội (vụ nổ Big Bang và gần hơn, thiên nhiên, trái đất).
Ngày nay, sự phát triển xã hội càng cao cấp, càng phân mảnh, thì những căn bệnh tâm lý ý thức càng nhiều: những mặc cảm tự ti và tự tôn, cô đơn, trầm cảm, đa nhân cách… vì con người bị đứt rách với thiên nhiên, với người khác, với chính mình (tôi là ai? người khác là gì? tôi sinh ra đời để làm gì hay để loay hoay với những cái vô thường rồi chết? chẳng lẽ cuộc đời tôi chỉ có trăm năm?)
Phong trào nữ quyền hiện đại nói lên điều này. Phong trào nữ quyền có nhiều cái đúng, nhưng điểm xuất phát là từ sự chấp ngã, cô đơn, khủng hoảng, không xác định được chức năng của người nữ, không nối kết được với gia đình, với thế giới đàn ông, với thiên nhiên và vũ trụ. Phong trào nữ quyền là một cuộc chiến đấu với chính những mặc cảm của người nữ.
Sự tiến hóa luôn có tính cách biện chứng: từ một đời sống sơ khai, hồn nhiên, vô tư như cây cỏ, như những người cổ xưa ngây thơ đến một đời sống nhiều ý thức, nhiều phân biệt, nhiều suy nghĩ, nhiều thông minh, nhiều xác định cái tôi, nhiều sở hữu… Nhưng đến một ngưỡng nào đó, ‘cái tôi và cái của tôi’ trở thành gánh nặng, làm cho mệt mỏi, bất an, đòi hỏi phải giải thoát khỏi giới hạn của ‘cái tôi và cái của tôi’.
Muốn tiến hóa, muốn thoát khỏi cuộc đời vô tư, ít suy nghĩ, ít lo âu, (thời thơ ngây của loài người), thì phải tiến lên cuộc đời ý thức, phân cách tôi và người khác, tôi và cái khác. Cho nên ý thức là cần thiết, lo âu là cần thiết, khổ là cần thiết. Chúng là ‘phản đề’ để tiến lên một con người toàn diện.
Vũ trụ và con người bắt đầu từ ‘vô ngã’ sơ khai tiến lên có ‘ngã’ và ‘ngã’ phát triển để tiến lên, càng ngày càng phức tạp, đa trung tâm, đa mạng lưới, cho đến một cái ngưỡng mà ý thức – không thể lùi lại về thời sơ khai – phải vượt khỏi chính nó. Cái tôi và ý thức phải phủ định chính nó để tiến hóa lên.
Ngã và ý thức là sự phủ định của cái đơn giản, vô ngã sơ khai, đến lượt nó, nó cũng phải tự phủ định chính nó để vượt lên, để giải thoát cho chính nó. Con người vô ngã là sơ đề, con người có ngã và ý thức là phản đề để phủ định và đưa đến một tổng hợp đề là một con người mới (con người toàn diện, con người tâm linh?).
Quá trình tiến hóa của vũ trụ và con người là một quá trình biện chứng, phủ định để tiến hóa.
3/ Cái tôi là một tiến bộ, phải dựa vào đó để vượt lên
Con người, với cái ngã làm trung tâm, với vô số kinh nghiệm giác quan, với kiến thức khổng lồ, với cảm xúc đa hệ, với tư duy mạnh mẽ đa chiều là một bước tiến hóa tất yếu. Không có một ý thức phát triển không phải là con người. Nhưng tới lúc nào cảm nhận rõ ràng là con người ấy đã chạm đến giới hạn. Vì sao? Vì thân thể với các giác quan là giới hạn, ý thức là giới hạn. Các triệu chứng là mệt mỏi, lo âu, thất vọng và nhất là hữu hạn bởi cái chết. Cảm thấy chật chội, không thỏa mãn. (chữ Khổ của đạo Phật có nghĩa là bất toại nguyện). Chính từ đây, ý thức, vị anh hùng đã tạo ra loài người cao hơn tất cả các loài trên trái đất này, cảm thấy mệt mỏi, bất lực và mong muốn thoát khỏi cuộc đời nhàm chán và mệt mỏi, giới hạn bởi cái chết của mình.
Người anh hùng cái ngã – ý thức giờ đây thấy mình là nạn nhân, bị bao vây trong một cuộc đời chật hẹp, khốn khổ (càng thông minh, tài giỏi càng khốn khổ). Và cũng chính cái ngã – ý thức ấy tìm lối giải thoát cho mình, tìm cách tiến lên cho mình.
Từ con người thân thể – giác quan, đến con người bản ngã – ý thức, và tiến lên thành con người siêu ý thức hay gọi là con người tâm linh, hay có thể gọi bằng danh từ nào chúng ta thích. Bởi vì thực thể tâm linh không phải vì một cái tên, một thuộc tính được gán cho mà biến đổi.
Tầng tâm linh là gì? Tầng tâm linh là Vô ngã, hoặc nếu theo con đường Trí huệ Bát nhã thì gọi là tánh Không, con đường Duy thức thì gọi là Đại viên cảnh trí, con đường Đại Ấn, Đại Toàn Thiện thì gọi là bản tánh của tâm… hay gì gì khác của các nền văn hóa khác để chỉ thực tại.
Nói theo biện chứng, nó là tổng hợp đề của Vô Ngã và Ngã. Nó vượt lên Vô Ngã và Ngã, vượt lên tầng thân thể giác quan, tầng ý thức, đồng thời giữ lại những kết quả tinh túy đã thành tựu của hai tầng dưới này. Vượt lên và lưu lại, chứ không phải vượt lên và bỏ đi.
Như vậy, biện chứng của tiến hóa, biện chứng của con đường giải thoát giác ngộ là:
Vô Ngã => Ngã => Vô Ngã – Ngã.
Tại sao là Vô Ngã – Ngã? Giải thoát mà còn cái ngã sao? Không còn cái ngã vô minh, phiền não, nhưng vẫn còn tính cách, nhân cách của người đó. Các bậc giải thoát A La Hán và Bồ tát vẫn có tính cách riêng, ngôn ngữ giảng dạy riêng, ngôn ngữ cơ thể riêng, kể cả tính khí riêng. Các vị được cho là đã đắc quả A La Hán hiện còn sống ở Myanmar, Thái Lan… cho thấy điều này. Các vị theo Đại thừa ở Tây Tạng hiện nay cũng cho thấy điều đó.
Cho nên phải hiểu vô ngã không phải là một loại đồng phục của ý thức, ai cũng như ai; không phải được sản xuất hàng loạt giống nhau, mà vô ngã là “bất biến”, nhưng vẫn có sự khác biệt “tùy duyên”. Khác biệt ấy là do sanh ở đất nước nào, học và giảng nói trong hoàn cảnh nào, có những năng khiếu, phước đức như thế nào, có mục đích tạm thời trong kiếp này như thế nào.
Vô Ngã – Ngã nghĩa là vị ấy mặc dầu đã giải thoát nhưng vẫn còn cái Ngã đã được tịnh hóa như một phương tiện để làm việc ở đời. Vị ấy vẫn còn thân thể giác quan riêng, vẫn còn ý thức của cá nhân, nhưng cả hai đều được tịnh hóa, vẫn có hai phần ấy nhưng đã thành thanh tịnh để trở thành phương tiện sống ở đời và làm việc cho đời.
Phần tâm linh không cắt đứt và hủy hoại hai phần dưới là thân thể và ý thức, trái lại lưu giữ và nâng cấp cho hai phần này. Phần ý thức khi được phần tâm linh nâng cấp và chuyển hóa sẽ thành ý thức phân biệt mà vô phân biệt, vô phân biệt mà phân biệt. Vô phân biệt là phần tâm linh.
Trong đạo Phật, một vị Phật không chỉ có phần Pháp thân vô tướng và vô niệm, mà còn có Sắc thân (gồm Báo thân và Hóa thân) để hiện hữu và hóa độ chúng sanh trong ba cõi.
Biện chứng, ở trong bối cảnh của ‘phân biệt và vô phân biệt’ là:
Vô phân biệt (của trẻ thơ) => Phân biệt (của người lớn) => Phân biệt mà Vô phân biệt, Vô phân biệt mà Phân biệt (một ông già minh triết – trẻ thơ vô tội).
4/ Tầm Quan Trọng Của Phần Ý Thức
Biện chứng là phần nào phải lành mạnh, vững vàng phần đó rồi mới bước lên phần trên được. Nếu phần ý thức còn yếu, như một bậc thang còn ọp ẹp mà vội bước lên tầng tâm linh thì sẽ bị gãy đổ, tuột xuống.
Phần ý thức là Văn (nghe, đọc, học, nghiên cứu), Văn rồi phải Tư (tư duy, suy nghĩ, phản biện). Sau đó mới đưa vào thực hành (Tu). Phần ý thức mà chưa phát triển đủ, chưa rõ ràng, chưa biết xét đoán, phê phán, thì khi gặp một kinh nghiệm trong tâm xảy ra, không biết đâu là đúng, đâu là sai: Rồi cứ thích nó, theo nó, trở thành lạc con đường chính, đi vào những hẻm cụt.
Nếu phần ý thức còn những thiếu sót nghiêm trọng thì khi đạt đến những bước đầu của tầng tâm linh, người ta sẽ mang theo những thiếu sót đó, và khó thể tiến thêm. Chẳng hạn hiểu chưa đủ về tánh Không, rồi khi có một vài kinh nghiệm ban đầu về tánh Không, người ấy dễ dàng lạc vào chấp không hoặc chấp có. Cần nhớ ngài Long Thọ khi giảng về tánh Không, ngài đặt tên cho tác phẩm chính của ngài là Trung luận, Trung Đạo luận thay vì Không luận.
Cuối cùng, dù có đạt được một số bước ở tầng tâm linh, nếu không học người ta sẽ không đủ kiến thức để giảng cho người đương thời. Từ Tu, người ta phải trở lại với Văn, Tư để có thể làm việc đời. Bởi vậy, trong kinh nói là học Ngũ minh, ngoài Nội minh là học để tu chứng Phật pháp, còn phải học Ngoại minh (biết các môn học ở đời) để có thể nối kết người đời với Đạo.
Xem thường ý thức và những khả năng của nó vừa là một khuyết điểm trên con đường tự giác, vừa là một thiếu sót trên con đường giác tha. Cho nên tầng tâm linh chỉ có thể đạt đến khi hai tầng dưới, tầng thân thể và tầng ý thức đã trưởng thành. Phần nhiều những người đạt đến tầng tâm linh bắt đầu cuộc đời tâm linh từ 25 tuổi cho đến khoảng 40 tuổi. Lịch sử những thành tựu tâm linh cho thấy điều này.
