NHỮNG ĐỨC TÍNH THĂNG HOA THÀNH CÔNG ĐỨC
Trích: Thư Viện Hoa Sen.

1/ Những đức tính làm tăng giá trị con người
Một người để thành công ở đời, dù trong bất kỳ lãnh vực nào, đều phải có vài đức tính để mở ra (như ‘khai trương’), và duy trì, phát triển nghề nghiệp ấy.
Sở hữu những đức tính khiến người ta được kính trọng, tôn vinh, lấy làm gương mẫu để bắt chước, noi theo. Chẳng hạn trong kinh doanh là giữ chữ tín, trung thực, công bình, không lật lọng, không giả dối, giả mạo,… Nếu ngược lại, thì không những bị vướng vào vòng pháp luật, mà còn bị coi thường, mất hết nhân cách đã xây dựng được.
Để thành công trong những lãnh vực nào đó, ngoài tài năng, tính toán, dự kiến… người ta phải có vài đức tính làm nền cho sự nghiệp được vững vàng và phát triển.
Những đức tính khiến người ta tự hoàn thiện mình, to self – perfect, chữ xưa gọi là “tu”. Trau dồi những đức tính, đó là tiến bộ, tiến hóa, đó là hoàn thành sứ mệnh làm người, Nhân đạo, đạo làm người.
Những đức tính xây dựng nên nhân cách một con người.
2/ Những đức tính giúp ta hạnh phúc
Trong những câu chuyện Tiền thân (Jataka), lúc ấy Đức Phật còn là Bồ tát, dầu ở trong bất cứ loài nào, ngài cũng thể hiện rất nhiều đức tính: khôn ngoan, hy sinh, rộng lượng, bố thí, ý chí (tinh tấn), nhẫn nại, trung thực, khoan dung, không thù hận, nhân từ…
Ở đây chỉ nói về đức tính khôn ngoan, nhờ đó ngài cứu giúp đồng loại, dạy cho họ những bài học, xử lý tốt đẹp những hoàn cảnh khó khăn trái nghịch, đổi thù thành bạn, kết chặt tình bạn trải qua nhiều kiếp (như với ngài A Nan) …
Khôn ngoan là gì? Tiếng Anh là wise, danh từ là wisdom, khôn ngoan, minh triết, đạo Phật dịch là trí huệ. Tiếng Pháp là sage, danh từ là sagesse, cùng một nghĩa với wisdom.
Khôn ngoan, một đức tính mà làm người ai cũng có, cũng làm phát lộ ra dù một phần rất nhỏ, như một đốm lửa, đã được Bồ tát trải qua những kiếp tự hoàn thiện mình, mở rộng đào sâu, để thành hiền thánh, và cuối cùng để thành trí huệ Phật, cái thấy biết của Phật (tri kiến Phật).
Trí huệ của Phật, không chỉ ở phương diện Chân đế (chân lý tuyệt đối và tối hậu), mà còn ở phương diện Thế đế (chân lý tương đối và quy ước), xử lý những tình huống ở đời.
Những đức tính được phát triển, được nâng cấp, đã thành tựu trên phương diện thân thể vật lý, tức là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp hình thể của một vị Phật.
Phật luôn luôn được diễn tả là “muôn hạnh, muôn đức”, “vạn đức trang nghiêm”.
Cho nên các đức tính là các con đường tiến hóa của con người, mà thành quả không chỉ là đắc quả Bồ tát (chánh báo) mà còn tạo ra một môi trường, một nơi chốn, một đất nước (y báo) tương ứng với tâm hạnh của Bồ tát ấy.
Kinh Duy Ma Cật, phẩm Phật quốc, nói:
“Bố thí là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh có thể thí xả tất cả sanh sang nước mình. Giữ giới là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh thực hành Mười Điều Thiện sanh sang nước mình. Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ tát khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh trang nghiêm bởi ba mươi hai tướng tốt sanh sang nước mình. Tinh tấn là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh chuyên cần tu tất cả công đức sanh sang nước mình. Bốn Tâm vô lượng là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh thành tựu Từ, Bi, Hỷ, Xả sanh sang nước mình. Bốn nhiếp pháp là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh đã được giải thoát qua bốn nhiếp pháp sanh sang nước mình.
. . .
Tâm hồi hướng là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, được cõi nước đầy đủ tất cả công đức. Nói pháp để trừ tám nạn là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, cõi nước không có ba đường xấu ác và tám nạn. Tự giữ giới hạnh, không chê khuyết điểm của người khác là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, cõi nước không có danh từ ‘phạm tội’. Mười thiện là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh không yểu mạng, giàu có, phạm hạnh, lời nói thành thật, dịu dàng, quyến thuộc chẳng chia lìa, khéo hòa giải tranh tụng, nói lời có lợi ích, không ghen ghét, không tức giận, có chánh kiến sanh sang nước mình.”
Tóm lại, những đức tính là những nguyên liệu để Bồ tát xây nên Tịnh độ, theo đúng luật nhân quả. Những đức tính trong tâm là Chánh báo, biểu lộ ra thành Y báo là hoàn cảnh, môi trường, cõi nước của Bồ tát.
Những đức tính chỉ thực sự là những đức tính khi chúng được biểu lộ ra giữa đời, giữa xã hội, với những người khác. Thế nên những đức tính là mặt hoạt động, mặt hành động của đạo Phật, và chúng biểu lộ ra trong xã hội (y báo).
Những Bồ tát thường có danh hiệu là những đức tính, đức hạnh, Đại trí Văn Thù, Đại hạnh Phổ hiền, Bồ tát Quán Thế Âm, Thường Bất Khinh, Thường Tinh Tấn, Hư Không Tạng, Vô Tận Tạng, Vô Tận Ý…
Như vậy, từ những đức tính đời thường, Nhân đạo, Phật giáo đã phát triển chúng, thăng hoa chúng, để thành những đức tính, những công đức của con đường giải thoát, giác ngộ (Phật đạo)
3/ Từ phước đức thăng hoa thành công đức
Những đức tính tạo ra phước đức, như Mười Điều Thiện ở trên tạo ra tuổi thọ, giàu có, cuộc sống trong sạch, lời nói thành thật, dịu dàng, có lợi ích, quyến thuộc chẳng chia lìa, không tranh tụng kiện cáo, không ghen ghét, tức giận, có chánh kiến. Với một cuộc đời thuận lợi như vậy người ta có thể dễ dàng tiến hóa lên một mức cao rộng hơn: đời sống tâm linh.
Nhưng phước đức được tạo ra cũng hao mòn theo thời gian và có lúc chấm dứt. Vì sao thế? Vì phước đức được tạo ra trong giới hạn của một ‘cái tôi và cái của tôi’ cho nên phước đức ấy cũng hữu hạn, không thể kéo dài trong thời gian và mở rộng trong không gian. Phước đức không thể trở thành công đức vững bền và còn mãi cho đến lúc giải thoát, giác ngộ.
Để chuyển hóa thành công đức thì những hành động phước đức của thân, khẩu, ý phải được làm trên nền tảng không bị giới hạn bởi ‘cái tôi và cái của tôi’, nghĩa là trên nền tảng tánh Không vô ngã và vô pháp. Công đức là sự kết nối, hòa hợp của hành động làm thiện ở đời với trí huệ tánh Không.
Chính tánh Không, hay nói đơn giản, chính sự mở rộng của tâm cho đến vô tận, làm cho phước đức biến thành công đức.
Trong đời sống bình thường, khi làm một việc thiện, như cho ai một cái gì, giúp ai một điều gì, chia sẻ với ai một hiểu biết, nếu mở rộng tâm ra, bằng hồi hướng, bằng từ bi hỷ xả (bốn tâm vô lượng), bằng quán chiếu tánh Không… chúng ta có thể biến một chuyện làm phước đức nhỏ ấy thành công đức lớn đến bao la.
Hành động với một tâm mở rộng trong/bằng/ qua tánh Không được gọi là Ba la mật. Ba la mật (paramita) nghĩa là rốt ráo, qua bờ bên kia, giải thoát. Rốt ráo, qua bờ bên kia, giải thoát được dùng bằng từ “thăng hoa” trong bài này, một từ của phân tâm học Tây phương.
Bố thí ba la mật là bố thí rốt ráo, qua đến bờ bên kia, giải thoát. Cho nên bố thí ba la mật là bố thí không bị giới hạn trong chủ thể, đối tượng và vật được cho. Đó là bố thí trong tánh Không, bố thí này đi liền với giải thoát. Hành động không còn gây ra nghiệp (nghiệp là karma, hành động), như vậy hành động tức là giải thoát.
Những đức tính đưa lại phước đức, hạnh phúc. Hơn nữa nếu được làm trên sự hiểu biết tánh Không, chúng đưa đến hạnh phúc lâu dài, vượt thời gian và không gian, đưa đến an lạc vĩnh viễn.
Bước đầu của con đường Phật giáo là hai sự tích tập công đức (do phước đức được làm trong tánh Không), và tích tập trí huệ. Cuối cùng thành Phật được xưng là Lưỡng Túc Tôn, bậc Đầy đủ hai sự Tích tập Công đức và Trí huệ. Cho nên con đường ấy được nói là “tốt đẹp ở giai đoạn đầu, tốt đẹp ở chặng giữa, tốt đẹp ở giai đoạn cuối cùng”.
Nói một cách thô thiển, đời thường, thì trên con đường ấy người ta chỉ có lời, chẳng bao giờ bị lỗ. Cuộc đời như một chuyến đi buôn, nhưng với người khôn ngoan, hiểu biết thì chỉ có lời, chẳng bao giờ lỗ lã.
