THÓI QUEN CỦA CÁC TỔ CHỨC THÀNH CÔNG

Trích: Sức mạnh của thói quen/ Charles Duhigg; Lê Thảo Ly dịch. – Tái bản. NXB Lao động Xã hội; Công ty Sách Alpha, 2019.

11/06/2026
9 lượt xem

Với Travis và hàng nghìn người khác, Starbucks – cũng như rất nhiều công ty khác – đã thành công trong việc giáo dục các kỹ năng sống mà trường học, gia đình và cộng đồng không thể mang đến. Hiện tại với hơn 137.000 nhân viên và hơn một triệu trường dạy, theo cách nào đó, Starbucks giờ đây là một trong những nơi giáo dục lớn nhất nước Mỹ. Vào năm làm việc đầu tiên, tất cả nhân viên dành ít nhất 50 giờ ở các phòng học Starbucks và hơn hàng chục giờ ở nhà đọc sách hướng dẫn của Starbucks, trò chuyện với các cố vấn được chỉ định cho họ.

 

Điểm cốt lõi của quá trình giáo dục đó là sự tập trung cao độ vào một thói quen quan trọng nhất: nghị lực. Hàng chục nghiên cứu chỉ ra rằng nghị lực là thói quen duy nhất và quan trọng nhất giúp cá nhân thành công. Ví dụ như, trong một nghiên cứu năm 2005, các nhà nghiên cứu từ Đại học Pennsylvania phân tích 164 học sinh lớp 8, đo chỉ số IQ và các yếu tố khác, bao gồm những học sinh đó thể hiện nghị lực bao nhiêu, như những bài kiểm tra tính tự kỷ luật đo được.

 

Những học sinh đạt được mức nghị lực cao có vẻ đạt được điểm cao hơn trong lớp và thi đỗ vào nhiều trường tuyển. Chúng ít nghỉ học hơn và dành ít thời gian để xem tivi và nhiều thời gian hơn để làm bài tập. “Những thanh niên có tính tự giác cao thể hiện tốt hơn các bạn hay bốc đồng cùng lứa trên các lĩnh vực liên quan đến học thuật,” các nhà nghiên cứu viết. “Tính tự giác dự đoán việc học tập tốt hơn chỉ số IQ. Tính tự giác cũng dự đoán học sinh nào sẽ cải thiện điểm số qua các khóa học trong năm, trong khi chỉ số IQ thì không… Tính tự giác có tác động lớn trong học tập hơn là tài năng trí tuệ.”

 

Và theo các nghiên cứu, cách tốt nhất để cùng có nghị lực và mang đến cho học sinh một lợi thế là biến chúngthành thói quen. “Đôi lúc nó giống như những người tự kiểm soát rất tốt, họ làm việc chăm chỉ – nhưng đó là vì họ đã biến nó thành bản năng,” Angela Duckworth, một nhà nghiên cứu của Đại học Pennsylvania nói với tôi. “Nghị lực của họ xuất hiện mà không cần họ phải nghĩ về nó.”

 

Với Starbucks, nghị lực không chỉ là sự ham học hỏi trên lý thuyết. Khi công ty bắt đầu dựng ra chiến lược phát triển quy mô lớn vào cuối những năm 1990, các nhà điều hành nhận ra rằng sự thành công đó đòi hỏi phải phát triển một môi trường trong đó chứng minh rằng khách hàng chi 4 đô-la để có được một cốc cà phê tuyệt hảo. Công ty cần huấn luyện các nhân viên tạo ra niềm vui đi kèm với cà phê sữa và bánh nướng. Vì thế từ rất sớm, Starbucks bắt đầu nghiên cứu cách đào tạo nhân viên điều chỉnh cảm xúc và tổ chức kỷ luật để có tinh thần hăng hái trong mọi lần phục vụ. Nếu các nhân viên không được huấn luyện để bỏ qua một bên những vấn đề cá nhân, cảm xúc của một vài nhân viên sẽ không thể tránh khỏi tác động đến cách họ cư xử với khách hàng. Tuy nhiên, nếu một nhân viên biết cách tập trung và giữ kỷ luật, cho dù cuối một ca làm việc 8 tiếng, họ cũng sẽ mang đến một dịch vụ thức ăn nhanh cao cấp hơn sự kỳ vọng của khách hàng.

 

Công ty dành hàng tỷ đô-la phát triển các chương trình để huấn luyện các nhân viên về tính kỷ luật. Trong thực tế, các nhà điều hành viết sách hướng dẫn phục vụ như những người hướng dẫn để giúp các nhân viên biết cách đưa nghị lực thành thói quen trong cuộc sống Một phần nào đó, những chương trình đó là lý do tại sao Sabude phát triển từ một công ty ở Seattle im ắng thành một công ty lớn và vững mạnh với hơn 17.000 cửa hàng và lợi nhuận hơn 10 tỷ đô-la một năm.