NỀN TẢNG CỦA MỘT XÃ HỘI HÀI HÒA
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen.

Con người luôn luôn muốn được sống trong một thế giới hòa bình, thân thiện, nối kết với nhau, giúp đỡ nhau, một xã hội hài hòa. Nhưng ước muốn ấy chưa từng thể hiện được trên đời sống thực tế, dù thời đại ấy có các bậc đại thánh đang hiện diện, thì xã hội ấy cũng chẳng phải là một thiên đường, một cõi thanh tịnh ở trần gian, thậm chí còn có chiến tranh loạn lạc.
Tại sao ước muốn xã hội hài hòa mà chưa hoặc không thực hiện được? Đâu là những nguyên nhân, lý do và con người cần những gì, phương tiện nào để thực hiện và có thể thực hiện đến mức độ nào?
Sau đây, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu, trong giới hạn của mình, về điều đó.
1/ Sự tương đối của thế giới vật lý và thế giới ý thức
– Sự tương đối của thế giới vật lý
Thế giới vật lý hay thiên nhiên có những giới hạn. Vì dân số tăng lên nên trái đất trở nên chật hẹp hơn. Nước ngọt trở thành hiếm, khi thì gần cạn khi thì quá nhiều, vì những đập thủy điện hoặc không đủ vì con người dùng quá nhiều.
Một điều tương đối của thế giới thiên nhiên là sự đánh đổi, muốn được cái gì cũng phải trả giá, cũng phải mất một cái gì đó. Muốn in một cuốn sách phải trả bằng một cái cây, muốn trồng trong nhà kính, che lưới thì phải chịu khí hậu nóng lên như ở Đà Lạt, muốn đi xe hơi cho nhanh thì phải dùng xăng gây biến đổi khí hậu…
– Sự tương đối của xã hội con người
Từ xa xưa, con người đã sống chung với nhau thành một xã hội: xã hội săn bắn hái lượm, xã hội nông nghiệp, xã hội công nghiệp, và xã hội hậu công nghiệp (IT và AI).
Xã hội có tiến bộ về mọi mặt, chẳng hạn ở chỉ một phương diện, tuổi thọ con người tăng lên, không còn những bệnh dịch khiến mất đi một phần mấy dân số thế giới.
Xã hội đào tạo nên con người, nhưng xã hội luôn luôn có những vấn đề của nó, những khuyết điểm của nó. Không một hệ thống nào là hoàn hảo, nhưng cũng chính vì những không hoàn hảo ấy, chính vì những mâu thuẫn nội tại ấy mà xã hội tiến bộ, theo quy luật biện chứng.
Xã hội có những định luật của nó, như kinh tế thì có những định luật của hệ thống kinh tế, các thiết chế ngân hàng, tài chánh, thuế…, mà nếu sửa đổi một điều thì phải cần thời gian và cũng phải có một nền văn minh mới, những cơ sở vật chất mới. Chẳng hạn từ khi con người bỏ việc di chuyển bằng đi bộ hoặc đi ngựa để đi bằng xe hơi, thì phải có một hệ thống giao thông, kéo theo những quy luật về giao thông.
Tóm lại, sống trong xã hội thì người ta phải sống trong những định luật và quy định của xã hội. Tự do là tự do trong những giới hạn của xã hội, và giải pháp nào cũng không thể giải quyết dứt điểm vì giải pháp nào cũng chỉ là đối trị.
Những điều ấy có thể gọi là ‘phần cứng’ của xã hội, còn phần mềm của xã hội, phần ý thức của xã hội thì thế nào? Phần ý thức của xã hội thì tự do hơn, nhưng cũng bị điều kiện hóa nhiều bởi phần cứng xã hội. Ý thức được tạo thành một cách căn bản bằng giáo dục, mà giáo dục cũng có những đổi thay, cải cách sau vài thập niên để phù hợp với hoàn cảnh xã hội. Ý thức có giới hạn của nó, chẳng hạn ngày nay ý thức đã thua AI về bộ nhớ, về tốc độ suy nghĩ.
Đó là chưa kể đến giới tinh hoa dẫn dắt xã hội đi theo những tham vọng của riêng mình hoặc của cả một quốc gia, đưa đến những cạnh tranh khốc liệt, có khi đến chiến tranh.
Vậy thì làm sao một người bình thường, một công dân xã hội có thể có được tự do, tự do mà không phá bỏ điều gì, không phá hoại cơ chế hợp lý cho hoàn cảnh lúc ấy, tự do ngay trong cơ chế hiện hành của xã hội? Như thân thể thì giới hạn, nhưng người ta có thể tự do trong những giới hạn ấy? Làm sao trong sự tương đối và giới hạn của thiên nhiên trái đất và của xã hội con người, người ta có thể tự do?
Với đạo Phật, sự tự do thực sự thì không tùy thuộc vào cơ chế, dù tốt hay xấu, của xã hội. Và chính không tùy thuộc vào cơ chế, ý thức của xã hội mà người ta có thể dựa vào đó để thăng hoa xã hội lên một tầng cao của không lệ thuộc và tự do.
Tầng cao ấy là tầng cao tâm linh ở trên tầng cơ thể và ý thức, đồng thời thâm nhập cả hai tầng này.
Tầng cao ấy, đạo Phật gọi là Phật tánh Như Lai tạng.
2/ Sống thế nào để hài hòa với Phật tánh?
Đạo Phật có nhiều phương pháp, nhiều con đường để đưa con người đến Phật tánh, nền tảng của tất cả mọi hiện hữu, của tất cả mọi biểu lộ thành thế giới và con người. Một số người có thể đến đó, thì xã hội có thể đến đó, vì xã hội là một tập hợp số đông con người. Xã hội có nhiều người thấy biết đúng thì hệ sinh thái của xã hội ấy sẽ thay đổi.
Ở đây chỉ học tập, xét xem một con đường thiên về hoạt động, và cần nhớ rằng, với đạo Phật, một con đường thì trong đó có mọi con đường, tương dung tương nhiếp lẫn nhau.
Con đường hoạt động này là hành động làm lợi mình lợi người, nghĩa là làm lợi ích về mặt vật chất và tinh thần cho toàn xã hội. Đó là con đường Bồ tát hạnh, được diễn tả một phần trong Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới (Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập; thế kỷ thứ 4 – 5, dịch).
Kinh này là “phẩm Tâm Địa pháp Môn”:
“Giới này là cội nguồn của tất cả chư Phật, cội nguồn của tất cả Bồ tát, là hạt giống (của tất cả chúng sanh).
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả ý, thức, sắc, tâm, là tình là tâm, đều nhập vào trong giới Phật tánh này. Vì đương nhiên có nhân (Phật tánh) nên đương nhiên có Pháp thân thường trụ (quả)”.
Như vậy “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” là giới Bồ tát, và giới Bồ tát là giới Phật tánh. Phật tánh chính là giới của Bồ tát.
Phật tánh ấy là nhân và cũng chính là quả Pháp thân: “Vì đương nhiên có nhân Phật tánh nên đương nhiên có Pháp thân thường trụ”. Con đường từ nhân Phật tánh cho đến quả là Phật tánh thoát mọi che chướng (Pháp thân thường trụ) lâu hay mau tùy theo mỗi người có nhiều hay ít các che chướng. Nhưng con đường ấy luôn luôn đi trên nền tảng là Phật tánh có sẵn.
Giới Bồ tát, ngoài Nhiếp luật nghi giới để giữ cho mình. Còn có Nhiếp thiện pháp giới (nắm giữ tất cả các điều thiện) và Nhiêu ích hữu tình giới (làm lợi lạc cho chúng sanh hữu tình). Nắm giữ và làm tất cả các điều thiện và làm lợi lạc cho chúng sanh, tức là bao trùm và thâm nhập tất cả mọi lãnh vực xã hội. Đây chính là Bồ tát hạnh.
Vậy thì với một xã hội bất toàn, và mãi mãi bất toàn, vì đặt nền trên thế giới vật chất hạn hẹp và thế giới ý thức nhiễm ô bởi sự phân biệt chia cắt, một người thực hành giới Bồ tát và hạnh Bồ tát phải làm thế nào để chuyển hóa, thăng hoa xã hội ấy?
Kinh nói, hãy đưa tất cả sắc (vật chất) và ý, thức, tâm, và tình (phiền não) vào Phật tánh để được chuyển hóa, thăng hoa thành chính Phật tánh trí huệ và từ bi.
Phật tánh theo Kinh, là ánh sáng trí huệ (“Kim cương quang minh bửu giới”), là từ bi (Nhiếp thiện pháp giới) và hoạt động của hạnh (làm lợi lạc cho chúng sanh hữu tình). Đưa xã hội vào trí huệ, từ bi và hạnh Bồ tát là chuyển hóa, thăng hoa xã hội, đưa xã hội vào tầng tâm linh Phật tánh của mỗi người và của xã hội.
Phật tánh Như Lai tạng là nền tảng của tất cả mọi xuất hiện. Phật tánh này vốn là thanh tịnh, “là giới phẩm của tất cả chúng sanh, bổn nguyên tự tánh thanh tịnh”. Sở dĩ có sự bất toàn, bất tịnh trong sự xuất hiện ấy là do phiền não, chấp trước của chúng sanh. Đưa xã hội, chúng sanh vào nền tảng vốn thanh tịnh của chúng, đó là việc làm của Bồ tát, lợi mình lợi người, tự giác – giác tha.
Nhưng ở trên nền tảng nào để làm việc này? Trên nền tảng Phật tánh cũng chính là Pháp thân, “Pháp thân của tất cả chư Phật”.
Khi đứng vào và làm việc trên nền tảng Phật tánh pháp thân để giúp đỡ, giáo hóa chúng sanh vốn có Phật tánh, thì công việc ấy sẽ như “nước rót vào nước”. Bồ tát giới, Bồ tát hạnh là sự triển khai, sự khai mở của Phật tánh pháp thân. Như vậy, Bồ tát giới, Bồ tát hạnh không phải là một luật lệ bó buộc, mà là sự phong phú giàu có của Phật tánh pháp thân. Càng làm việc theo Bồ tát giới, Bồ tát hạnh, người ta càng đi sâu vào Phật tánh pháp thân, càng “Nhập Pháp giới”. Đây là điều các Kinh nói, “Tịnh cõi nước Phật, thành tựu chúng sanh”.
Khi sống trong Phật tánh, chỉ nói riêng một điều, người ta mới thấy được sự bình đẳng của tất cả chúng sanh, dù cho có biểu hiện khác nhau vì nghiệp riêng của mỗi người.
Tóm lại, bằng thiền định, thiền quán và các hạnh, người ta tương ưng được, thấy được Phật tánh. Sống trong cái thấy Phật tánh này, sống trong Phật tánh này, người ta hành những hạnh Bồ tát, khi ấy những hạnh Bồ tát lưu xuất từ Phật tánh. Lưu xuất từ Phật tánh, người ta sẽ biết được đời sống là sự hoan hỷ, và nói cho đủ, đời sống là sự biểu lộ của Từ, Bi, Hỷ, Xả. Đó là con đường Bồ tát triển khai từ Phật tánh “bổn nguyên tự tánh thanh tịnh”.
Một xã hội vận hành bằng Bồ tát giới. Bồ tát hạnh, nghĩa là bằng Phật tánh thì xã hội ấy là một xã hội hài hòa, một xã hội hướng đến giác ngộ, và đến mức trọn vẹn, đó là một xã hội giác ngộ.
