CƯU MA LA THẬP, DỊCH GIẢ ĐỜI THỨ BA CỦA PHẬT GIÁ0 TRUNG QUỐC
Trích: Lịch Sử Triết Học Phương Đông Viết Cho Thanh Thiếu Niên; Người dịch: Lương Mỹ Vân – Kim Sang Ho; NXB Thế giới; 2021

Như đã nói ở phần giới thiệu về Đạo An, Đạo An bị Phù Kiên bắt ép về kinh đô Trường An. Ở đó trong một thời gian dài, ông giảng dạy Phật pháp và truyền bá đạo Phật, một lần ông đã khuyên Phù Kiên cung thỉnh Cưu Ma La Thập1. Phù Kiên thấy đề nghị đó là đúng nên đã cử người đi mời La Thập, nhưng vua của nước Quy Từ khi đó đã ngăn cản việc này. Phù Kiên liền huy động quân đội đến bắt La Thập mang về. Tuy vậy trong lúc đó lại xảy ra rất nhiều biến động về chính trị nên phải đến hơn mười năm sau La Thập mới tới Trường An.
Cha của Cưu Ma La Thập là Cưu Ma La Viêm vốn là con trai của Tể tướng Ấn Độ. Theo đúng luật pháp thì ông sẽ được kế thừa chức vị của cha, nhưng La Viêm đã được sự đồng ý của cha và tới nước Quy Từ, ở đó ông đã lấy em gái của quốc vương nước Quy Từ làm vợ, hai người đã sinh ra anh em La Thập.
Đến một ngày nọ, mẹ của La Thập thấu hiểu những lẽ vô thường, và trong thời gian đó lại ngẫu nhiên nhìn thấy những bộ xương trắng lộ ra từ ngôi mộ đang được khai quật. Rốt cuộc sự sống của con người là gì và tại sao lại phải chết? Sau khi chết thì sẽ đi về đâu? Khổ sở trong những điều phiền não ấy, cuối cùng bà đã quyết định xuất gia. Dĩ nhiên chồng bà hết sức phản đối, bà bèn tuyệt thực. Qua ngày thứ sáu, khi thấy vợ mình quyết tâm đến cùng, cha của La Thập đành đồng ý để bà xuất gia. Khi đó La Thập mới bảy tuổi, đã theo người mẹ xuất gia rời nhà, và từ đó hai mẹ con ra khỏi Quy Từ, đi khắp các nước lân cận để học đạo. La Thập đọc cuốn kinh đầu tiên là A Tỳ Đàm kinh, theo lời kể lại thì mỗi ngày ông thuộc lòng ba vạn hai nghìn chữ, và khi còn rất trẻ đã nhớ được đến bốn trăm vạn chữ kinh Phật. Khi ông đi qua các nước, ở đó đều mở các pháp hội lớn và thỉnh ông giảng kinh, dạy cách giải thoát. Về việc này có chuyện truyền lại như sau.
Khiến kẻ ngạo mạn phải quỳ gối
Khi đó ở nước Ôn Túc nằm ở phía Bắc nước Quy Từ có một vị đạo sĩ nổi danh về biện luận nhưng rất ngạo mạn. Ngày nọ ông ta đánh cây trống lớn và tuyên bố: “Nếu có người biện luận thắng được ta, ta sẽ ngay lập tức cắt đầu để tạ tội!” Khi ấy La Thập nghe tiếng tăm tự mãn của ông ta, bèn đến luận tranh với ông ta và cuối cùng đã khiến ông ta phải cúi đầu quy phục. Vị đạo sĩ đó quỳ rạp dưới chân La Thập, khẩn thiết nài nỉ cho mình trở thành đệ tử của La Thập. Khi đó La Thập mới có 20 tuổi.
Tiếng tăm của La Thập vang đến tận Trung Quốc. Như đoạn trên chúng ta đã nhắc đến, nhận mệnh lệnh của Phù Kiên, Lã Quang đã dẫn đại quân đến đánh nước Quy Từ để bắt La Thập. Tuy nhiên trong thời gian đó, Phù Kiên lại bị sát hại và nước Tiền Tần diệt vong. Khi nghe tin ấy, Lã Quang đã không về nước nữa mà chuyển quân sang Lương Châu đánh chiếm khu vực đó và xây dựng quốc gia độc lập2.
Lã Quang thấy La Thập còn trẻ tuổi đã ép La Thập lấy công chúa nước Quy Từ. Đương nhiên La Thập từ chối quyết liệt. Nhưng Lã Quang đã bắt ông phải uống rượu rồi chuốc thật say và nhốt ông vào mật thất cùng với công chúa, bắt kết hôn. La Thập bị giam hãm ở Lương Châu trong vòng 15 năm, trải qua nhiều khốn đốn thăng trầm, thời gian đó ông đã học thông thạo tiếng Trung và tiếp nhận các trí thức cũng như có được nhiều kinh nghiệm về Trung Quốc.
Diêu Hưng vua nước Hậu Tần đã nghe danh La Thập từ lâu nên rất hâm mộ, cũng làm theo Phù Kiên trước đây, đem quân đến tìm và đưa ông về (Trường An). Sau đó ông được phong Quốc sư và được thỉnh cầu dịch chú kinh Phật. Diêu Hưng đã hết sức giúp đỡ việc biên dịch của La Thập về mọi mặt, xây dựng những dịch trường để ông chuyên tâm vào công việc. Kết quả là La Thập đã tập hợp được khoảng 800 tăng lữ tài giỏi khác, cùng nhau phiên dịch kinh điển Phật giáo, không chỉ có thế, họ còn sửa chữa những lỗi phiên dịch của các bản dịch kinh điển đã có từ trước. Cách dịch kính điển của họ là: La Thập đọc nguyên bản kinh Phật rồi dịch ra tiếng Trung Quốc, sau đó các vị tăng người Trung Quốc nghe và ghi chép lại bằng ngôn ngữ viết.
Diêu Hưng cho rằng “Người thông tuệ như La Thập nếu không có người nối dõi thì sẽ là tổn thất lớn cho hậu thế” nên đã ép ông uống rượu say và bắt ông nhận lấy 10 mỹ nữ. Nhưng La Thập cho rằng cuộc sống bình an sung sướng như vương giả chư hầu thì dù tốt dù xấu cũng không đúng đắn đối với người cầu đạo. Hơn nữa phạm vào nữ sắc lại là điểm ô uế nhất, nên khi giảng luận ông thường mở đầu như sau:
“Giống như hoa sen nở ra trong vũng bùn lầy sặc mùi nữ sắc, ai muốn hái lấy bông sen thì cũng không được bước xuống bùn nhơ.”
Dù sao thì bông sen thơm ngát La Thập đã nở trong cuộc sống chìm nổi ở Trường An. Trong thời gian ở đó, ông đã biên dịch được hơn 300 quyển kinh Phật, đây là thành tựu biên dịch kinh Phật lớn nhất trong lịch sử biên dịch kinh điển Phật giáo chỉ sau Huyền Trang thời Đường. Hơn nữa lời lẽ trong bản dịch cũng rất trau chuốt đẹp đẽ, tạo nên một văn phong độc đáo trong lịch sử văn học Trung Quốc.
Từ Tiểu thừa đến Đại thừa
Trong cuộc đời thờ Phật của La Thập, quan trọng nhất chính là bước chuyển biến từ Phật giáo Tiểu thừa sang Phật giáo Đại thừa. Có một câu chuyện thú vị xảy ra trong thời gian ông chuyển từ Tiểu thừa sang Đại thừa như sau. Khi ấy ông đang giảng giải Phật học. Một tăng lữ là Bàn Đầu Đạt Đa hỏi:
“Thầy đã phát hiện ra điều vi diệu nào trong pháp Đại thừa vậy?”
La Thập trả lời:
“Pháp của Tiểu thừa nhỏ bé mà tiêu cực, pháp của Đại thừa phạm vi rộng lớn mà vẫn tinh tế, không chỉ cứu vớt cho bản thân mình mà còn có thể cứu vớt cho mọi người.”
Bàn Đầu Đạt Đa lại hỏi:
“Thời xưa có người đặt thợ dệt cho một tấm vải, yêu cầu càng mỏng càng tốt. Người thợ dệt ngày đêm gắng sức dệt được tấm vải, nhưng người kia không vừa lòng. Thợ dệt tức giận, nâng tay ra phía trước mặt và nói: “Tấm vải mỏng nhất đây thưa ông! Người kia ngạc nhiên: “Người nói vậy sao ta không nhìn thấy tấm vải nào trước mắt?” Thợ dệt bảo: “Thợ dệt tài năng nhất như tôi còn không nhìn thấy, làm sao ông nhìn thấy được?” Người kia rất hài lòng vì đã có được tấm vải mỏng nhất thế gian, nên đã thưởng cho thợ dệt một túi tiền vàng. Bây giờ mỗi lời của thầy lại nói đến ‘không’, chẳng phải cũng như việc người ngốc nghếch kia tin rằng có tấm vải mỏng giữa hư không hay sao? Nghĩa là trong nội dung mà thầy nói rốt cuộc chẳng có chút ý nghĩa nào, không phải vậy sao?”
La Thập đáp:
“Trong tâm người kia lúc nào cũng có hữu. Đầu tiên là có sự phân biệt giữa dày và mỏng, đó là hữu thứ nhất, yêu cầu tấm vải mỏng nhất, đó là hữu thứ hai, cuối cùng là có quan niệm về không, đó là hữu thứ ba. Người đó chưa từng lần nào đạt đến không, sao có thể giải thích về không được?”
Pháp của Tiểu thừa lúc nào cũng bị ràng buộc vào hữu, khuyên con người về thiên đường-địa ngục cùng những nhân quả ứng báo, điều đó ngay từ đầu đã là một kiểu quan niệm truy cầu lợi ích cá nhân. Ngược lại Phật pháp của Đại thừa khi giải thích về “không” thì phủ nhận cả đến quan niệm tự ngã của bản thân, phát huy đến mức cao nhất cái tâm Bồ tát tự do. Do đó ở đây “không” được nói đến không phải là cái “không” không có bất cứ cái gì, mà là cái không ở mức độ cao bao hàm cái hữu, nên thực sự đã đưa tư tưởng của chúng ta lên tầm cao hơn.
Chú thích
- Cưu Ma La Thập (344 – 413) là dịch giả Phật giáo đời thứ ba của Phật giáo Trung Quốc cùng với Huyền Trang, là khai tổ của Tam luận tông. Trong số các kinh Phật đã dịch có kinh Pháp Hoa.
- Phù Kiên vua nước Tiền Tần nghe danh tiếng của Cưu Ma La Thập đã lệnh cho tướng quân Lã Quang đến nước Quy Từ để đưa ông về. Trên đường đi, Lã Quang đã chinh phục một số nước nhỏ ở vùng Tây Vực và tiến vào Quy Từ. Khi đó quân lính của Quy Từ là khoảng 70 vạn, mà quân lính của Lã Quang chỉ có khoảng 7 vạn, nhưng Lã Quang đã đánh thắng. Tuy vậy đến năm 382, trong lúc đạo quân chiến thắng của Lã Quang đang tiến vào vùng Lương Châu, thì Phù Kiên thua trận ở Phì Thủy và sau đó bị thuộc hạ là Diêu Trường giết hại. Nghe tin này, Lã Quang không quay về Tiền Tần nữa mà đã ở lại Lương Châu và lập nên nước Hậu Lương.
